image banner
            VI | EN
QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ LAO ĐỘNG BỊ THA HÓA TRONG “BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844”
Lượt xem: 5

Tóm tắt: Trong quan niệm của C.Mác, lao động là hoạt động đặc trưng mang tính tự do và sáng tạo của con người, hoạt động đó không chỉ làm ra những sản phẩm vật chất để nuôi sống xã hội, mà còn góp phần hình thành nên văn hóa xã hội loài người. Hơn nữa, lao động cũng góp phần biến đổi, hoàn thiện con người cả về thể lực, trí lực và tâm lực. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh xã hội nhất định, hoạt động đó bị tha hóa trở thành thế lực đối nghịch với chính bản thân người lao động, hủy hoại sự phát triển và làm tha hóa con người. Trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C.Mác đã đưa ra những tư tưởng hết sức quan trọng về lao động bị tha hóa trong xã hội tư bản và con đường khắc phục sự tha hóa con người. Đây là những tiền đề quan trọng cho học thuyết giá trị thặng dư và quan niệm duy vật về lịch sử của ông sau này. 

Từ khóa: C.Mác, “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, lao động bị tha hóa, sự tha hóa con người.

 

Vào thời kỳ của C.Mác, người công nhân trong xã hội tư bản bị bóc lột hết sức nặng nề, hoạt động lao động của họ bị máy móc hóa và chỉ còn nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh tồn thể xác. Người công nhân chỉ cảm thấy mình hành động tự do khi thực hiện những chức năng động vật của mình; còn trong những chức năng của con người là hoạt động lao động thì họ cảm thấy mình chỉ là con vật. Những nhu cầu sinh tồn thể xác trở thành nhu cầu thống trị chi phối hoạt động lao động đã làm tha hóa con người, hủy hoại tính người của con người, vị thế của con người bị hạ thấp xuống mức sinh tồn thú vật.

Mâu thuẫn giữa giới chủ và công nhân ngày càng trầm trọng đã dẫn đến sự bùng phát những phong trào công nhân, ở châu Âu nhằm chống lại giới chủ, đòi hỏi lẽ sống cho mình. 

Trong hoàn cảnh đó, các lý luận của chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, cũng như các học thuyết kinh tế chính trị đương thời không đủ khả năng giải thích nguyên nhân dẫn tới tình trạng tha hóa của người công nhân trong xã hội tư bản, cũng không chỉ ra cho họ con đường để khắc phục tình trạng ấy. Mặc dù đã có những phát hiện quan trọng về lĩnh vực kinh tế, nhưng các nhà kinh tế chính trị học Anh cũng không thể giải thích rõ những nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động của người công nhân bị tha hóa. Trong quan niệm của họ, tình trạng lao động của người công nhân bị tha hóa mang tính tất yếu và đó là hệ quả của sở hữu tư nhân. 

Trong khi đó, triết học Hêghen chỉ nhìn nhận sự tha hóa của con người trên bình diện tinh thần, và sự tha hóa đó là tất yếu trong quá trình phát triển. Hêghen hoàn toàn không chú ý đến sự tha hóa con người trong quá trình lao động, một hoạt động góp phần hoàn thiện con người. Khi lao động của con người bị tha hóa thì hoạt động đó không còn là quá trình phát triển; mà trái lại, nó còn hủy hoại bản chất con người. Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc thì quan niệm bản chất con người được tha hóa vào tôn giáo... Trong bối cảnh đó, C.Mác đã kế thừa những tư tưởng có giá trị của các bậc tiền bối để tiến hành nghiên cứu xã hội tư sản nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự tha hóa của người công nhân trong xã hội tư bản, qua những vấn đề, như tiền công, lợi nhuận tư bản, tư bản... C.Mác đã xem xét sự tha hóa con người qua hoạt động cơ bản của nó là lao động, từ đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lao động của người công nhân bị tha hóa và con đường, cách thức để khắc phục tình trạng đó bằng hình thức chính trị. Quan niệm của C.Mác về lao động bị tha hóa và con đường khắc phục sự tha hóa con người là một trong những tư tưởng nền tảng đầu tiên trong quan niệm duy vật về lịch sử của ông. Tư tưởng giải phóng con người, trả lại những giá trị người cho con người của C.Mác đã cho thấy tính nhân văn trong học thuyết của ông. C.Mác không những cảm thông với thân phận của người công nhân, mà còn đứng về phía họ trong cuộc đấu tranh giành lại phẩm giá của con người. Ngày nay, tư tưởng giải phóng con người của C.Mác đã được các nhà chủ nghĩa Mác phương Tây tiếp tục phát huy để phê phán phá bỏ chiếc lồng sắt đang kìm hãm và làm tha hóa tinh thần của con người trong xã hội tư sản hiện đại nhằm khai sáng văn hóa và thực hiện cách mạng xã hội.

1. Chế độ sở hữu tư nhân và lao động bị tha hóa

Theo C.Mác, các nhà kinh tế chính trị học bắt đầu sự nghiên cứu từ thực tế của chế độ tư bản, nhưng họ đã không làm rõ quá trình hình thành, phát triển của chế độ này. “Kinh tế chính trị học không cung cấp cho chúng ta chìa khóa để hiểu cơ sở và nguyên nhân tách rời của lao động khỏi tư bản, của tư bản khỏi ruộng đất” [1, tr.127]. Vì vậy, các nhà kinh tế chính trị học đã không giải thích đúng về mối quan hệ giữa sở hữu tư nhân và lao động động bị tha hóa. Để làm rõ vấn đề này, C.Mác cũng xuất phát từ những tiền đề của kinh tế chính trị học khi nghiên cứu chế độ tư hữu nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động bị tha hóa trong xã hội tư bản. “Chúng tôi đã xuất phát từ những tiền đề của kinh tế chính trị học. Chúng tôi dùng ngôn ngữ của nó và những quy luật do nó đề ra. Chúng tôi đã giả định là có sở hữu tư nhân, có sự tách rời nhau của lao động, tư bản và ruộng đất và cả sự tách rời nhau của tiền công, lợi nhuận về tư bản và địa tô; tiếp nữa chúng tôi giả định là có phân công lao động, cạnh tranh, khái niệm giá trị trao đổi v.v.” [1, tr.126]. Khác với các nhà kinh tế chính trị học, C.Mác không giải thích quá trình tách rời của lao động khỏi tư bản bằng cách quy về trạng thái nguyên thủy của nó. Bởi trạng thái nguyên thủy như vậy, theo ông, không giải thích được gì hết. “Viện đến trạng thái nguyên thủy, nhà kinh tế chính trị học chỉ đẩy vấn đề trở lại chốn xa xăm mờ mịt” [1, tr.128]. Ông đã cố gắng làm rõ quá trình vận động, phát triển của nền sản xuất dẫn đến sự tách rời giữa lao động và tư bản thông qua quá trình cạnh tranh, tích tụ tư bản. Và, chỉ bằng cách này mới có thể giải thích một cách rõ ràng mối quan hệ giữa tình trạng lao động bị tha hóa và chế độ sở hữu tư nhân.

Các nhà kinh tế chính trị học cho rằng, lao động là bản chất duy nhất của của cải, nhưng họ không chú ý đến những mâu thuẫn trong sản xuất hàng hóa dẫn đến tình trạng lao động bị tha hóa. Họ quy chế độ sở hữu tư nhân vào bản chất của con người và họ cho rằng, sở hữu tư nhân đã dẫn đến tình trạng lao động bị tha hóa. Chế độ sở tư hữu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lao động bị tha hóa. “Kinh tế chính trị học xuất phát từ lao động với tính cách là linh hồn chân chính của sản xuất, tuy nhiên nó không đem lại cho lao động cái gì hết, mà lại hiến tất cả cho sở hữu tư nhân” [1, tr.142]. Trái ngược với nhận định của các nhà kinh tế chính trị học, sau khi nghiên cứu mối quan hệ giữa sở hữu tư nhân và lao động bị tha hóa, C.Mác đã phát hiện ra sở hữu tư nhân là kết quả của lao động bị tha hóa. Đây là sự nhầm lẫn của các nhà kinh tế chính trị học. Ông viết: “Cố nhiên là chúng ta rút được khái niệm lao động bị tha hóa (đời sống bị tha hóa) từ kinh tế chính trị học, với tính cách là kết quả của sự vận động của sở hữu tư nhân. Nhưng sự phân tích khái niệm ấy chỉ ra rằng, mặc dù sở hữu tư nhân biểu hiện ra là cơ sở, là nguyên nhân của lao động bị tha hóa, nhưng thực ra là ngược lại, nó hóa ra là kết quả của lao động bị tha hóa cũng giống như thần thánh lúc đầu không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của sự nhầm lẫn của lý trí con người” [1, tr.142]. Thực ra, phải đạt đến trình độ phát triển cao của sở hữu tư nhân thì bí mật đó mới được bộc lộ và người ta mới có thể nhìn nhận chính xác được tính hai mặt của quan hệ ấy, “một mặt, sở hữu tư nhân là sản phẩm của lao động bị tha hóa, và mặt khác nó là phương tiện làm cho lao động bị tha hóa, là sự thực hiện sự tha hóa ấy” [1, tr.142]. Chỉ đến giai đoạn mà sản xuất hàng hóa phát triển rất cao, sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, thì sở hữu tư nhân mới gây ra tình trạng tha hóa lao động. “Vậy, sở hữu tư nhân là sản phẩm, kết quả, hậu quả tất nhiên của lao động bị tha hóa, của quan hệ bên ngoài của công nhân với giới tự nhiên và với bản thân mình” [1, tr.142]. Còn trong giai đoạn sản xuất hàng hóa nhỏ, chưa có sự đối lập giữa tư bản và lao động, như chế độ tư hữu “(ở La mã, ở Thổ Nhĩ Kỳ, v.v.)” [1, tr.163] mỗi người lao động đều sở hữu tư liệu lao động của mình, họ tự tổ chức sản xuất và bán hàng hóa của mình thì lao động của họ hoàn toàn mang tính tự do và sáng tạo. Nói cách khác, quá trình lao động của họ hoàn toàn không bị áp đặt, họ làm chủ hoàn toàn sản phẩm của mình và quá trình lao động của họ góp phần hoàn thiện các kỹ năng và tri thức của mình. Do vậy, sở hữu tư nhân ở những giai đoạn này không làm cho lao động bị tha hóa; mà ngược lại, nó còn thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện của con người.

Sự phê phán chế độ tư hữu của C.Mác đã cho chúng ta thấy sở hữu tư nhân chỉ có thể làm lao động bị tha hóa khi có sự tách rời nhau của lao động, tư bản và ruộng đất. Đó là kết quả của quá trình cạnh tranh tích lũy tư bản vào tay một số người, “toàn bộ xã hội không tránh khỏi phân chia thành hai giai cấp - những người sở hữu và những công nhân không có sở hữu” [1, tr.126]. Khi đó, người công nhân không có tư liệu lao động cũng như đối tượng lao động để tiến hành lao động và buộc phải bán thứ duy nhất mà họ có là sức lao động cho nhà tư bản. Trong những công xưởng đó, lao động của họ bị cưỡng ép, hoàn toàn vì mục đích duy trì những nhu cầu sinh tồn thể xác; chứ không nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện con người và vì vậy, lao động của họ bị tha hóa. Qua đó, C.Mác đã chỉ cho chúng ta thấy, không phải cứ có sở hữu tư nhân sẽ dẫn đến tình trạng lao động bị tha hóa, mà phải đến một trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội - xã hội tư bản, thì mới có sự tách rời giữa lao động, tư bản và ruộng đất và khi đó, mới xảy ra tình trạng lao động bị tha hóa. Đây là điều mà các nhà kinh tế chính trị học đã nhầm lẫn, không nhận ra.

2. Quá trình tích lũy tư bản và lao động bị tha hóa

Để làm rõ vấn đề lao động bị tha hóa, C.Mác đã dựa trên quy luật giá trị, giá cả và cạnh tranh của các nhà kinh tế chính trị học nhằm lý giải quá trình tích lũy tư bản vào tay một số người. Bởi ông nhận thấy rằng, “đối với công nhân, sự tách rời giữa tư bản, địa tô và lao động là nguy hiểm chết người” [1, tr.72]. Một khi trong xã hội có sự tách rời giữa tư bản, sức lao động và địa tô thì sự bất lợi bao giờ cũng nghiêng về phía người công nhân và đây cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng lao động của người công nhân bị tha hóa. C.Mác còn nhận thấy bản chất tôi tớ của tiền công trong xã hội tư bản; tiền công của người công nhân không tuân theo quy luật trao đổi ngang giá. Trong chế độ tư bản, tiền công không phản ánh đúng giá trị sức lao động của công nhân, mà nó chỉ là hậu quả tất nhiên của lao động bị tha hóa. Rằng, “vì tiền công - trong đó sản phẩm, đối tượng lao động trả công cho bản thân lao động, - chỉ là hậu quả tất nhiên của sự tha hóa lao động: vì trong tiền công, lao động biểu hiện ra không phải là mục đích tự nó mà là tôi tớ của tiền công” [1, tr.143]. Các nhà kinh tế chính trị học đã không nhận thấy điều này và trong con mắt của họ, dường như tiền công là sự trao đổi ngang giá. “Trong kinh tế chính trị học, lao động chỉ hiện diện dưới hình thức hoạt động nhằm đạt được tiền công” [1, tr.82]. Cho nên, họ không chú ý đến mối quan hệ trực tiếp giữa người công nhân và sản phẩm do anh ta làm ra, mà coi đó là những sản phẩm đương nhiên thuộc về nhà tư bản. “Kinh tế chính trị học đã bỏ qua không nói đến sự tha hóa trong thực chất của lao động, vì nó không xem xét quan hệ trực tiệp giữa người công nhân (lao động) và sản phẩm do anh ta sản xuất ra” [1, tr.131]. Hạn chế này làm cho nhà kinh tế chính trị học không phát hiện ra bí mật của tích lũy tư bản, từ đó, không giải thích chính xác về nguyên nhân gây ra tình trạng lao động của người công nhân bị tha hóa trong xã hội tư bản. Buộc họ phải giải thích tình trạng đó qua lòng tham, hay sự cạnh tranh.

C.Mác đã nhận thấy tiền công mà người công nhân nhận được chỉ là một phần nhỏ đủ để họ tồn tại; còn phần lớn giá trị sức lao động của công nhân kết tinh trong hàng hóa đã bị nhà tư bản chiếm đoạt. Rằng, “người công nhân chỉ nhận được phần nhỏ nhất - cái mà không có nó thì tuyệt đối không thể được: chỉ đúng cái cần thiết để người công nhân tồn tại - không phải như một con người mà như một công nhân và không phải để người công nhân duy trì loài người, mà duy trì giai cấp nô lệ - giai cấp công nhân” [1, tr.79]. Tiền công không phải là sự trao đổi ngang giá trong sự mua bán lao động, sự bất lợi luôn bị đẩy về phía người công nhân và ông đã gọi sức lao động của người công nhân là hàng hóa mang thuộc tính bất hạnh: “Như vậy, nếu lao động là hàng hóa thì nó là hàng hóa có những thuộc tính bất hạnh. Nhưng ngay cả theo những nguyên lý của kinh tế chính trị học thì lao động không phải là hàng hóa, vì nó không phải là “kết quả tự do của một thị trường tự do” [1, tr.87]. Sở dĩ C.Mác đã gọi lao động là hàng hóa mang tính chất bất hạnh, bởi nó mang lại sự giàu có cho giới tư bản và sự bần cùng, đói rách cho người công nhân. “Dĩ nhiên, lao động sản xuất ra những vật phẩm kỳ diệu cho những người giầu, nhưng chính nó lại sản xuất ra sự bần cùng hóa của người công nhân. Nó tạo ra lâu đài, nhưng cũng tạo ra cả những nhà ổ chuột cho công nhân. Nó sáng tạo ra cái đẹp, nhưng cũng làm què quặt công nhân. Nó thay lao động thủ công bằng máy móc, nhưng nó lại ném một bộ phận công nhân trở về với lao động dã man và biến một bộ phận công nhân khác trở thành cái máy. Nó sản xuất ra trí tuệ, nhưng cũng sản xuất ra cả sự đần độn, ngu ngốc cho công nhân” [1, tr.131].

 Phát hiện này đã giúp C.Mác rút ra kết luận rằng, tư bản chính là những giá trị mà giai cấp tư bản đã chiếm đoạt sản phẩm lao động của người công nhân. Sau đó, giai cấp tư sản dùng chính những giá trị lao động đã chiếm đoạt của công nhân để mở rộng quy mô sản xuất và hậu quả là người công nhân ngày càng bị bóc lột và nô dịch nhiều hơn. Quá trình tích lũy tư bản cũng chính là quá trình tách tư bản ra khỏi lao động và địa tô. Những giá trị lao động của người công nhân đã bị nhà tư bản biến thành một thế lực quay lại thống trị người công nhân ngày càng nặng nề hơn. Và, đây là lý do giải thích nguyên nhân của sự tha hóa lao động trong xã hội tư bản, khi người công nhân càng cố gắng trong sản xuất thì thế giới vật phẩm do anh ta tạo ra càng chống lại anh ta. “Người công nhân sản xuất càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị” [1, tr.129].

3               3.  Lao động bị tha hóa

Trong quan niệm của các nhà kinh tế chính trị học, lao động chưa được nhìn nhận là hoạt động đặc trưng của con người, luôn mang tính sáng tạo và góp phần phát triển, hoàn thiện con người. Họ “coi người công nhân chỉ là súc vật lao động, chỉ là một con vật mà nhu cầu được quy hành những nhu cầu thể xác thiết yếu nhất mà thôi” [1, tr.83]. Hoạt động lao động thường được họ quy vào một hình thức đặc biệt nào đó do tự nhiên quy định. Do đó, đối với họ, sự tha hóa lao động chỉ là một sự tha hóa nhất định, đặc biệt nào đó của con người, con người tha hóa năng lực của mình trong quá trình lao động để tạo ra hàng hóa. Họ chưa thấy được quá trình tha hóa lao động trong xã hội tư bản không góp phần hoàn thiện con người; mà ngược lại, còn hủy hoại con người. Ở đây, hoạt động lao động không xuất phát từ nhu cầu lao động của con người, mà nó chỉ là phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu sinh vật của con người. “Bên cạnh việc người công nhân bị hạ thấp về mặt tinh thần và về mặt thể xác, xuống thành một cái máy, việc con người biến thành một hoạt động trừu tượng và một cái dạ dày, người công nhân cũng ngày càng phụ thuộc vào mọi sự dao động của giá cả thị trường vào việc sử dụng những tư bản vào ý muốn của người giầu” [1, tr.76]. Các nhà kinh tế chính trị học không lý giải đầy đủ sự tha hóa của con người trong quá trình lao động. “Kinh tế chính trị học bỏ qua không nói đến sự tha hóa trong thực chất của lao động, vì nó không xem xét quan hệ trực tiếp giữa công nhân (lao động) và sản phẩm do anh ta sản xuất ra” [1, tr.131].

Theo Hêghen, sự tha hóa (Entfremdung) là quá trình phân tách và hòa nhập giữa chủ thể và khách thể của tinh thần tuyệt đối. Tinh thần tự biến mình thành cái khác, thành mặt đối lập rồi quay trở về cái ban đầu trên cơ sở cao hơn và hoàn thiện hơn. Sự tha hóa là cách thức phát triển của chủ thể tinh thần tuyệt đối. Hêghen chủ yếu quan tâm đến hoạt động nhận thức của tinh thần tuyệt đối, mà không chú ý tới hoạt động lao động tạo ra sản phẩm hàng hóa, cũng như vai trò của hoạt động này đối  với quá trình phát triển hoàn thiện của  con người.

C.Mác đã nhận ra thiếu sót, hạn chế của Hêghen, cũng như các các nhà kinh tế chính trị học là ở chỗ, họ đã bỏ qua, không xem xét đến sự tha hóa của con người trong quá trình lao động. Sự tha hóa lao động của người công nhân xuất hiện ngay trong quá trình lao động sản xuất, tại những công xưởng tư bản. C.Mác đã xem xét hai phương diện tha hóa của lao động để chỉ rõ tình trạng lao động của người công nhân bị tha hóa trong xã hội tư bản. 

Thứ nhất, đó là quan hệ của công nhân với sản phẩm của lao động. Người công nhân quan hệ với sản phẩm do mình làm ra như một vật xa lạ, nó không thuộc về anh ta, mà còn quay lại thống trị anh ta. Những sản phẩm lao động của người công nhân bị chiếm đoạt và bị biến thành một thế lực nô dịch chính họ. Khi lao động bị tha hóa thì hoạt động lao động không còn là quá trình hoàn thiện, phát triển con người, mà là tạo ra vùng đất chết đối với họ. Năng lực lao động của người công nhân càng tốt thì anh ta càng bất hạnh, bị thống trị càng nặng nề bởi những vật phẩm do anh ta làm ra. Về vấn đề này, C.Mác đã nhận định rằng, “người công nhân càng làm kiệt sức mình trong công việc thì thế giới vật phẩm xa lạ đối với anh ta do bản thân anh ta tạo ra, chống lại chính anh ta, trở nên càng mạnh; bản thân anh ta, thế giới bên trong anh ta trở nên càng nghèo; của cải thuộc về anh ta càng ít” [1, tr.129]. Rõ ràng, khi lao động bị tha hóa thì hoạt động lao động của người công nhân không mang lại thành quả, niềm vui và hạnh phúc cho họ, mà đó là quá trình mang lại những rủi ro, bất hạnh cho họ. “Sự thực hiện lao động biểu hiện ra là sự bị loại ra khỏi thực tại đến mức phải chết đói” [1, tr.129]. Hơn nữa, hoạt động lao động của người công nhân cũng chính là quá trình đang tạo nên những ngục tù giam hãm họ, người công nhân bị thống trị bởi chính những sản phẩm mà họ làm ra. “Việc chiếm hữu vật phẩm biểu hiện ra là một sự tha hóa đến mức người công nhân sản xuất ra càng nhiều vật phẩm thì anh ta có thể chiếm hữu càng ít vật phẩm và anh ta bị sản phẩm của anh ta, tức tư bản, thống trị càng mạnh” [1, tr.129].

Thứ hai, C.Mác đã xem xét quan hệ giữa người lao động với hành vi sản xuất trong bản thân quá trình lao động. Đây là mối quan hệ giữa hoạt động lao động của người công nhân với nhu cầu lao động của bản thân anh ta. Ở đây, hoạt động lao động của người công nhân với tư cách  cái xa lạ, không xuất phát từ nhu cầu lao động của anh ta, mà là sự đánh đổi, là phương tiện duy nhất để duy trì những nhu cầu sinh tồn của bản thân anh ta. Quá trình lao động đó chỉ đơn thuần là phương tiện để đáp ứng nhu cầu sinh vật của con người. “Đó không phải là sự thỏa mãn nhu cầu lao động, mà chỉ là một phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu khác, chứ không phải nhu cầu lao động. Tính bị tha hóa của lao động biểu hiện rõ rệt ở chỗ là một khi không còn sự cưỡng bức lao động về thể xác hoặc về mặt khác thì người ta trốn tránh lao động như trốn tránh bệnh dịch hạch” [1, tr.133]. Hoạt động lao động không nhằm mục đích hoàn thiện và phát triển con người, mà chỉ là một phương tiện để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn của người công nhân. Vì lý do này mà C.Mác đã mô tả hoạt động của người công nhân là khi thực hiện chức năng con người (hoạt động lao động) thì người công nhân cảm thấy anh ta chỉ là con vật. Người công nhân bị tha hóa ngay chính trong quá trình lao động, hoạt động lao động không những không góp phần hoàn thiện và phát triển con người, mà còn hủy hoại sự phát triển đó. C.Mác nhận xét rằng, “trong lao động của anh ta, anh ta không khẳng định mình mà phủ định mình, không cảm thấy mình sung sướng, mà cảm thấy mình khổ sở, không phát huy một cách tự do nghị lực thể chất và tinh thần của mình, mà làm kiệt quệ thân thể của mình và phá hoại tinh thần của mình. Cho nên chỉ có ở ngoài lao động người công nhân mới cảm thấy là chính mình, còn trong quá trình lao động thì cảm thấy mình bị tách khỏi bản thân mình” [1, tr.132]. Khi hoạt động lao động không còn mang tính tự do và sáng tạo thì hoạt động đó không còn là đặc trưng của loài người nữa. Tình trạng lao động bị tha hóa đã hạ thấp tính loài của con người. “Lao động bị tha hóa đảo ngược quan hệ đó khiến cho con người chính vì là một sinh vật có ý thức, chỉ biến hoạt động sinh sống của mình, bản chất của mình thành phương tiện để duy trì sự tồn tại của mình mà thôi” [1, tr.136]. Việc biến nhu cầu sinh tồn thể xác của con người trở thành nhu cầu cơ bản đã hủy hoại tính người của con người. Như vậy, lao động bị tha hóa đã biến đời sống có tính loài của con người trở thành phương tiện để duy trì sự tồn tại thể xác con người mà thôi; nó hoàn toàn hủy hoại sự phát triển và hoàn thiện của con người. “Lao động bị tha hóa làm cho thân thể của bản thân con người, cũng như giới tự nhiên ở bên ngoài con người, cũng như bản chất tinh thần của con người, bản chất nhân loại của con người, trở thành xa lạ với con người” [1, tr.138]. Lao động bị tha hóa của người công nhân trong xã hội tư sản không những làm cho quan hệ của mình với đối tượng và hành vi sản xuất của mình như là với những lực lượng xa lạ và đối địch với mình, mà còn sản sinh ra quyền lực thống trị của người khác đối với bản thân mình. Nói cách khác, lao động bị tha hóa đã làm cho mối quan hệ của con người với giới tự nhiên và quan hệ xã hội của con người bị tha hóa, đời sống có tính loài của con người bị tha hóa.

         4. Con đường khắc phục sự tha hóa

Để tìm ra con đường khắc phục sự tha hóa của lao động trong xã hội tư sản, C.Mác đã làm rõ mối quan hệ của lao động bi tha hóa và sở hữu tư nhân. Ông nhận ra rằng, sở hữu tư nhân vừa là kết quả của tình trạng lao động bị tha hóa, vừa là phương tiện gây ra sự tha hóa ấy. Cơ sở xã hội gây ra sự tha hóa chính là sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Bởi vậy, C.Mác cho rằng, con đường giải phóng con người khỏi sự tha hóa, trước tiên và chủ yếu là xóa bỏ những điều kiện kinh tế - xã hội đã gây ra tình trạng lao động bị tha hóa “bằng hình thức chính trị”. Tức là phải xóa bỏ quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ông viết: “Xuất phát từ quan hệ của lao động bị tha hóa với sở hữu tư nhân, còn có thể kết luận thêm rằng sự giải phóng xã hội khỏi sở hữu tư nhân v.v., khỏi sự nô dịch, trở thành hình thức chính trị của sự giải phóng công nhân, vả lại vấn đề ở đây không chỉ là sự giải phóng của họ, vì sự giải phóng của họ bao hàm sự giải phóng của toàn thể loài người; và sở dĩ như thế là vì toàn bộ cái chế độ nô dịch loài người nói chung bao hàm trong quan hệ của công nhân với sản xuất và vì mọi quan hệ nô dịch đều chỉ là những biến thể và kết quả của quan hệ ấy” [1, tr.143-144]. Và theo C.Mác, chủ nghĩa cộng sản là biểu hiện tích cực cho sự xóa bỏ chế độ tư hữu. Ở đây, ông cũng phân biệt rõ hai trình độ khác nhau của chủ nghĩa cộng sản, đó là chủ nghĩa cộng sản thô lỗ mang tính bình quân, chưa vượt khỏi trình độ của chế độ tư hữu và chủ nghĩa cộng sản như “chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị”, hay “chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị” - một hình thức phát triển cao của xã hội mà ở đó, không còn tình trạng lao động bị tha hóa. Do đó, để có thể khắc phục tình trạng lao động bị tha hóa, giải phóng con người không thể là chủ nghĩa cộng sản thô lỗ. “Như vậy, sự xóa bỏ tích cực thứ nhất đối với chế độ tư hữu, chủ nghĩa cộng sản thô lỗ chỉ là hình thức biểu hiện của sự ty tiện của chế độ tư hữu, chế độ này muốn tự xác định với tính cách là một chế độ cộng đồng tích cực” [1, tr.166-167]. Nhiệm vụ giải phóng con người chỉ có thể được giải quyết bởi chủ nghĩa cộng sản với tư cách “chủ nghĩa tự nhiên hoàn bị”, “nó là sự giải quyết thực sự mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, giữa con người và con người, là sự giải quyết thực sự cuộc tranh chấp giữa tồn tại và bản chất, giữa sự đối tượng hóa và sự tự khẳng định, giữa tự do và tất yếu, giữa cá thể và loài” [1, tr.167]. Sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu bằng chủ “nghĩa tự nhiên hoàn bị” là sự xóa bỏ một cách tích cực mọi sự tha hóa của con người, để con người quay trở về tồn tại xã hội đích thực của mình. “Chủ nghĩa cộng sản với tính cách là sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu - sự tự tha hóa ấy của con người - và do đó với tính cách là sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người; do đó với tính cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại chính mình với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người – sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển trước đó” [1, tr.167].

Tóm lại, trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác đã kế thừa những tư tưởng tinh hoa của các nhà kinh tế chính trị Anh, phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc để làm rõ những nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động bị tha hóa. Ông xem xét sự tha hóa của con người qua hoạt động lao động, hoạt động đặc trưng của con người. Ông còn làm rõ tính hai mặt của lao động, một mặt, lao động có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển, hoàn thiện của con người; mặt khác, khi hoạt động đó bị tha hóa, nó lại hủy hoại chính con người, hạ thấp tính người của con người và làm tha hóa bản chất người của con người. Làm rõ điều kiện kinh tế - xã hội đã gây ra tình trạng lao động bị tha hóa, trong xã hội tư sản là quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, C.Mác đã đưa ra tư tưởng quan trọng là khắc phục sự tha hóa, giải phóng con người “bằng hình thức chính trị” để xóa bỏ quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Chủ nghĩa cộng sản được C.Mác coi là một hình thức tích cực khắc phục sự tha hóa giúp con người trở lại với chính mình. Quan niệm về lao động bị tha hóa và con đường khắc phục sự tha hóa, giải phóng con người không chỉ là những nền tảng hết sức quan trọng cho quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, mà còn thể hiện tính nhân văn cao cả của C.Mác. Ông đã đồng cảm với thân phận của những người lao động cùng khổ, bị tha hóa trong xã hội tư bản và đứng về phía họ trong cuộc đấu tranh giành lại phẩm giá con người. Ngày nay, các nhà mácxít và các nhà chủ nghĩa Mác phương Tây vẫn kiên trì tiếp nối phương pháp phê phán và tính nhân văn của ông để phê phán sự tha hóa về mặt tinh thần của con người phương Tây hiện đại vì mục đích khai sáng và giải phóng con người.

 

Tài liệu tham khảo

[1]   1. C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

 

Tác giả: ThS. Phạm Văn Dương-Viện Triết học

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1