TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở VIỆT NAM
Tóm tắt: Xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ
trọng yếu, là công việc “gốc” của cách mạng. Bài viết góp phần luận giải tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ cho đội ngũ cán bộ ở
Việt Nam hiện nay. Phong cách lãnh đạo dân chủ thể hiện tập trung ở chỗ: Người
cán bộ là “đầy tớ” của nhân dân; chịu sự kiểm soát của nhân dân; biết lắng nghe
ý kiến của dân; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình và phê bình; “nói
đi đôi với làm” và nêu gương cho quần chúng; lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung
dân chủ.
Từ khóa: Dân chủ, phong cách lãnh đạo, Hồ Chí
Minh.
Công tác cán bộ là một trong những vấn đề đang rất được
quan tâm hiện nay, đặc biệt trong điều kiện một Đảng cầm quyền, phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ vững mạnh là nhân tố quyết
định sự thành công của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những tư tưởng sâu sắc và còn
nguyên giá trị về công tác cán bộ, trong đó có tư tưởng về xây dựng phong cách
lãnh đạo dân chủ cho đội ngũ cán bộ, mà ngày nay chúng ta cần tiếp tục vận dụng
sáng tạo.
Công tác cán bộ là vấn đề được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc
biệt quan tâm và coi trọng, bởi Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng công tác
cán bộ. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã đề ra mục tiêu phải
“xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng
lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”[1].
Để góp phần thực hiện nhiệm vụ đó, cần thiết phải trở lại nghiên cứu, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, xây dựng phong cách
lãnh đạo dân chủ nói riêng. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng phong
cách lãnh đạo dân chủ cho đội ngũ cán bộ rất sâu sắc, khoa học, thiết thực và
cụ thể:
Thứ nhất, cán bộ
phải là người “đày tớ” của nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ lãnh đạo phải thực sự quan
tâm đến nhân dân, là người “đày tớ” trung thành của nhân dân, nghĩa vụ của
người lãnh đạo là đứng về lợi ích của nhân dân mà hành động. Mọi chủ trương,
chính sách của Nhà nước là bảo vệ quyền lợi của dân, mang lại lợi ích cho nhân
dân, do vậy, người lãnh đạo là người tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn nhân dân
trong quá trình hiện thực hóa những chủ trương, chính sách ấy. Hồ Chí Minh đã
từng nói: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ, điều đó cũng có
nghĩa là mỗi một cán bộ, đảng viên ở tất cả các cấp các ngành, các đơn vị phải
một lòng một dạ vì nhân dân phục vụ, phải luôn quan tâm và chăm lo cho lợi ích
của người dân, phải thực sự là người “đày tớ trung thành” của nhân dân. “Bây
giờ chúng ta là dân chủ. Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì
Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm
đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”[2].
Hồ Chí Minh luôn khẳng định, người “đày tớ” “phải một lòng một dạ” nghĩ
đến nhân dân, vì nhân dân mà ra sức phấn
đấu và phục vụ. Trong chế độ dân chủ, người
cán bộ phải luôn tâm niệm rằng
những việc hướng tới lợi ích của nhân dân,
của đất nước; bởi, nhân dân bầu họ, trao quyền cho họ để làm những việc
có lợi cho dân,cho nước. Toàn tâm, toàn ý vì dân, đó là phong cách lãnh đạo của
người cán bộ trong nền dân chủ. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cán bộ lãnh đạo
rằng ở cương vị lãnh đạo thì phải biết lo cho dân, chứ không phải là làm quan
cách mạng.
Người “đày tớ” trong bộ máy công quyền phải luôn ghi nhớ chức năng và nhiệm vụ của
mình là phục vụ nhân dân, họ luôn
phải thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình, xứng đáng là người được
nhân dân tin tưởng và giao quyền. Họ phải hiểu rằng nhân dân đã lựa chọn, tín
nhiệm và giao quyền lực cho họ chính là để họ thực hiện nhiệm vụ phục vụ, phụng
sự nhân dân. Nếu người cán bộ không xác định rõ điều đó thì rất dễ bị tha hóa
và biến chất, sẽ chỉ tìm cách để vun vén lợi ích cho mình, tự tư, tự lợi. Điều
này ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước. Vì vậy, người cán bộ thực sự có tâm
phải xem mình là đày tớ của nhân dân, phải chịu sự kiểm soát của nhân dân.
Thứ hai, cán bộ
phải chịu sự kiểm soát của nhân dân. Trong xã hội dân chủ, quyền lực thuộc về
nhân dân, được nhân dân trao cho người đại diện, thay mặt họ để quản lý điều
hành công việc. Thông thường, quyền lực, nếu không chịu sự kiểm soát, giám
sát..., thì rất dễ dẫn đến bị lạm dụng, bị tha hóa... Khi có quyền lực trong
tay, người cán bộ rất dễ lạm quyền, độc
đoán, tính tư lợi sẽ trỗi dậy dẫn đến dễ tham ô, tham nhũng. Vì thế, quyền lực
phài có sự kiểm soát chặt chẽ từ nhân dân. Muốn có một đội ngũ cán bộ tốt thì quyền
lực của họ (do nhân dân trao cho) nhất thiết phải chịu sự kiểm soát của nhân
dân.
Để người lãnh đạo thực sự làm việc có hiệu
quả đúng phong cách dân chủ thì phải có sự kiểm soát quyền lực. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhiều lần khẳng định rằng, chỉ có tăng cường kiểm soát và khéo kiểm
soát thì mới đẩy lùi được bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy của người lãnh đạo, mới
thấy rõ được ai thực làm, ai làm rối, mới phòng tránh được tình trạng lạm quyền, bè phái, gây thất thoát
tài sản, tham ô, tham nhũng. Điều này được Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân chúng có
quyền kiểm soát việc làm để đề phòng những việc nhũng lạm có thể xảy tới"[3].
Thực hiện việc kiểm soát đối với cán bộ quyền lực là vô
cùng quan trọng. Bởi, theo Hồ Chí Minh, “1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ
cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các
cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”[4].
Nếu không có sự kiểm soát của nhân dân, người cán bộ xấu vẫn ung dung ngồi ở vị
trí đặc quyền gây hại cho dân, họ trở nên quan liêu, độc đoán. Nếu không có
kiểm soát, việc làm xấu của cán bộ sẽ lây lan ra cả cơ quan, tổ chức. Cả một bộ
máy hoạt động “lỗi” sẽ cứ diễn ra hàng ngày như một thói quen và xấu càng thêm
xấu, điều này làm mất dần lòng tin nơi dân. Nếu không có kiểm soát, quyền lực
sẽ bị lạm dụng, trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân của người nắm
quyền lực.
Kiểm soát khéo léo, có một cơ chế kiểm soát chặt chẽ thì
những tiêu cực, khuyết điểm sẽ bị phát hiện và xử lý; kiểm soát tốt và thường
xuyên thì khuyết điểm nhất định sẽ giảm. Và, để sự kiểm soát có hiệu quả, Hồ
Chí Minh cho rằng cần phải làm tốt hai điều: “Một là, việc kiểm soát phải có hệ
thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là người rất có uy tín”.
Kiểm soát phải có hệ
thống, đó thực sự là một ý tưởng rất quan trọng. Điều này nói lên rằng,
việc kiểm soát không thể thực hiện một cách bừa bãi, tùy tiện. Kiểm soát có hệ
thống tức là phải có tổ chức thực hiện, được pháp luật công nhận, có phương
pháp và cách thức kiểm soát, những kết quả kiểm soát cần được công khai rộng
rãi, và có cơ chế cho những người hay những tổ chức kiểm soát hoạt động độc lập
không phụ thuộc vào người được kiểm soát. Có như vậy, người kiểm soát mới dám
nói, dám làm, dám đương đầu với cái xấu. Người kiểm soát phải có đủ uy tín bởi việc kiểm soát cũng không
đơn giản, phải có trình độ về lĩnh vực kiểm soát, phải có tinh thần đạo đức cách mạng, thật thà và công minh thì báo cáo
về việc kiểm soát mới thực sự hiệu quả.
Việc kiểm soát cần phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, liên
hợp với quần chúng, trao quyền kiểm soát cho quần chúng. Khi ấy, tinh thần dân
chủ mới thực sự được phát huy và việc kiểm soát mới thực sự thành công.
Thứ ba, người cán
bộ lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến của dân, gần gũi với nhân dân.Trong vai trò là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh thường xuyên
thăm hỏi nhân dân, Người đã đến rất nhiều nơi, nhiều cơ quan đoàn thể, các địa phương để lắng nghe ý
kiến của nhân dân, tận mắt chứng kiến công việc và đời sống của nhân dân đồng
thời giáo dục nhân dân hiểu tõ quyền và nghĩa vụ của mình. Theo Người, có như
vậy, cán bộ lãnh đạo mới xây dựng được niềm tin trong nhân dân. Khi dân tin yêu
thì mọi công việc sẽ thuận lợi, khi mất niềm tin của dân thì mọi công việc sẽ hết sức khó khăn.
Với Hồ Chí Minh, muốn xây dựng được một xã hội ổn định, dân
chủ và tự do thì mỗi cán bộ, đảng viên “phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ
với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”[5].
Trong công tác lãnh đạo, rõ ràng nếu không lắng nghe ý kiến
của dân, không chịu khó gần dân để hiểu tâm tư nguyện vọng của dân… thì dễ dẫn
tới chỗ người lãnh đạo có thể đưa ra các quyết định không phù hợp, thậm chí vi
phạm đến lợi ích của dân, làm mất lòng tin của
nhân dân. Do vậy, theo Hồ Chí Minh, “chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch
lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành
theo nguyên tắc sau đây: 1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng,
giải thích cho dân chúng. 2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng
thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa
nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ
đề nghị sửa chữa.Trước kia, việc gì cũng từ "trên dội xuống". Từ nay
việc gì cũng phải từ "dưới nhoi lên". Làm như thế, chính sách, cán bộ
và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”[6].
Thứ tư, thực hiện
nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình và phê bình.
Một đảng tồn tại không tránh khỏi trong đảng có một số phần
tử chưa tốt. Bởi, đôi khi do thói xấu tự tư, tự lợi, do hoàn cảnh cũng như do
địa vị của người đảng viên mà nảy sinh thói xấu. Đặc biệt, theo Hồ Chí Minh, ở
một bộ phận đảng viên thường nảy sinh một số bệnh như bệnh tham lam, bệnh lười
biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, bệnh thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa
phương, óc lãnh tụ, bệnh kéo bè kéo cánh, bệnh cá nhân...; bệnh nặng gây ra
chứng lạm quyền, tham ô, tham nhũng. Và, chỉ có thực hành dân chủ trong Đảng
mới có thể chữa được các loại bệnh trên, giữ vững sức mạnh của Đảng. Những căn
bệnh trên nếu không được khắc phục, sửa chữa triệt để sẽ có hại đến Đảng, đến
nhân dân. Vì vậy, thực hành dân chủ bằng cách tự phê bình và phê bình
sẽ giúp đảng viên loại bỏ được những thói xấu, phát triển được những đức tính
tốt. “Nói về từng người, nể nang
không phê bình để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế
thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không
dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào
mình tự bỏ thuốc độc cho mình”[7].
Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một
Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,
vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra
khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là
một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[8].
Thứ năm, cán bộ
phải “nói đi đôi với làm”, nêu gương sáng cho quần chúng noi theo.
Nếu người cán bộ chỉ
nói mà không làm, hoặc “nói một đằng, làm một nẻo” thì không thể lãnh đạo được
quần chúng, không tạo được niềm tin yêu của quần chúng. Người cán bộ, đặc biệt
là cán bộ lãnh đạo phải là người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Cần
lấy sự thẳng thắn, chân thành để đối xử; lấy sự tin yêu, giúp đỡ để cảm hoá;
trân trọng phát huy nhân tố tích cực; hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp
cho tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả. Người
cán bộ mà “nói một đằng, làm một nẻo” sẽ khiến dân chúng không còn tin tưởng và
tôn trọng họ nữa, thậm chí gây ra nhưng phản ứng tiêu cực. Vì vậy, theo Hồ Chí
Minh, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo có đầy đủ các phẩm chất đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh
đã dặn cán bộ: “Nói cái gì phải cho tin - nói và làm cho nhất trí - làm thế nào
cho dân tin”[9].
“Nói đi đôi với làm” không chỉ là một yêu cầu đối với người cán bộ cách mạng,
mà đó còn là một biểu hiện của phong cách trọng nhân dân. “Nói đi đôi với làm” không chỉ thể hiện tác phong của người
cán bộ, mà đó còn là một hình thức nêu gương rất tốt cho dân chúng làm theo. Hồ
Chí Minh luôn coi trọng phong cách nêu gương của người cán bộ, nhất là cán bộ
lãnh đạo. Bản thân Người là một tấm gương sáng cả trong cuộc sống lẫn trong
công việc.
Thứ sáu, lãnh đạo
theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Khi đã tập hợp được ý kiến của cấp dưới, người lãnh đạo
phải là người quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Cách thức
lãnh đạo trong cơ chế dân chủ, theo Hồ Chí Minh, đó chính là tập trung dân chủ,
thiểu số phục tùng đa số, thảo luận lấy ý kiến nhân dân, phối hợp chặt chẽ với
nhân dân. Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung và ngược lại, tập trung phải được
xây dựng trên nền tảng dân chủ. Cụ thể, Người viết: “Tập trung trên nền tảng
dân chủ là các đảng viên có quyền thảo luận chính sách của Đảng, rồi tập trung
ý kiến lên Trung ương, còn dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung là vì nếu cái gì
không nên bàn cũng cứ bàn ắt hỏng, cái gì đã bàn rồi thì phải đưa lên. Khi bên
trên ra lệnh thì bên dưới phải thi hành, phải tuân theo. Tập trung mà không dân
chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn, nước
nào càng tập trung lại càng dân chủ, càng dân chủ thì càng phải tập trung” .
Dân chủ được thực hiện dưới sự chỉ đạo tập trung sẽ giúp
chống lại được bệnh quan liêu, quyết định tùy tiện, tự do thao túng hay dân chủ
quá trớn. Tập trung có dân chủ sẽ tập hợp được ý kiến của quần chúng nhân dân,
là điều kiện để có được những sáng kiến của nhân dân, trên tinh thần ấy, tập
trung giải quyết sẽ có được hiệu quả cao trong công việc.
Dân chủ là các việc phải được đưa ra bàn bạc thảo luận, lấy
ý kiến, trên nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, rồi tập trung lại để quyết
định. Dân chủ không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Dân chủ mà không có tập
trung sẽ dẫn đến tình trạng “vô trách nhiệm”, “cha chung không ai khóc”. Các
vấn đề đưa ra đã được bàn, đã được đông đảo ý kiến nhân dân đồng tình, tuy
nhiên nếu không có tập trung để chỉ đạo thì công việc không thể được giải
quyết. Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên “càng phải nâng cao tinh thần
phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của
nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi
đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào
quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính
sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật
thà, ngay thẳng; không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng,
không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của
quần chúng. Phải “chí công vô tư”, và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó
là đạo đức của người cộng sản. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức
nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên. Chúng ta phải làm đúng lời dạy của Lênin
vĩ đại: Giữ gìn sự thống nhất của Đảng như con ngươi của mắt. Phải hết lòng tôn
trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ; tuyệt đối không được độc đoán cá nhân,
tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật. Càng có công
lao, càng phải khiêm tốn. Chớ vì có ít nhiều công lao mà sinh bệnh công thần,
kèn cựa, địa vị. Phải nhớ rằng: Mọi thành công là do sức phấn đấu, hy sinh của
toàn Đảng, toàn dân, không phải của một cá nhân anh hùng nào. Đối với Đảng, đối
với nhân dân, chúng ta có một nghĩa vụ vẻ vang là: Suốt đời làm người con trung
thành của Đảng, người đày tớ tận tụy của nhân dân”[11].
Người cán bộ lãnh đạo cần phải nắm bắt thấu đáo đường lối,
chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, hiểu được tâm tư của
quần chúng nhân dân. Họ phải thật sự chia sẻ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và
nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Phải biết kết hợp
quyết tâm của Đảng và Chính phù với quyết tâm của quần chúng. Phải quan tâm
thiết thực đến đời sống của nhân dân. Người cán bộ lãnh đạo phải hun đúc, trau
dồi các phẩm chất đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính; luôn gương mẫu, có tinh thần
trách nhiệm cao độ; có lòng tự trọng, tôn trọng pháp luật... Chỉ làm đúng những
điều đó thì người cán bộ mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân
dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên
cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”[12].
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ
cán bộ nói chung, xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ cho cán bộ nói riêng,
Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã xây dựng được những thế hệ cán bộ
đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Đánh giá chất lượng đội ngũ cán
bộ, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược,
đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đã nhận định: Sau hơn
20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ, đội
ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng
ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư
tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức lối sống giản dị, gương mẫu, có
ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng
lên, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo,
có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tư duy đổi mới, có
khả năng hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực
hiện... Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; thiếu
những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều,
còn mặt hạn chế, yếu kém. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm
sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số
cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa
ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng,
lãng phí, tiêu cưc, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước
thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính
sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà
nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật[13].
Điều đó cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung,
xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, là “gốc”
của cách mạng Việt Nam trong mọi giai đoạn, đặc biệt là trong bối cảnh một đảng
cầm quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế
thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Do vậy, chúng ta cần kiên định và vận
dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ cho
đội ngũ cán bộ, nhằm phát triển đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay.