TỪ TRIẾT LÝ VỀ CON NGƯỜI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN ĐẾN YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Tóm tắt: Trong lịch sử phát triển của triết học từ trước tới nay, con người luôn được xem là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng, các trường phái triết học. C.Mác và Ph.Ăngghen bàn rất nhiều đến vấn đề con người. Bài viết tập trung làm rõ những nội dung cốt lõi trong triết lý của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người; phân tích yêu cầu phát triển con người Việt Nam hiện nay trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số; đồng thời đề xuất một số định hướng vận dụng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong phát triển con người Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Con người, chuyển đổi số, hội nhập, phát triển, triết lý.
Abstract: Throughout the history of philosophy, the human being has consistently been a central object of inquiry for various thinkers and philosophical schools. In this regard, Karl Marx and Friedrich Engels devoted significant attention to the question of the human being. This article clarifies the core contents of their philosophy of man; analyzes the requirements for developing the Vietnamese people in the current context of international integration and digital transformation; and proposes several orientations for applying their thought to the development of the Vietnamese people today.
Keywords:Human being; digital transformation; integration; development; philosophy.
1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử tư tưởng, vấn đề con người luôn giữ vị trí trung tâm của mọi học thuyết triết học. Triết lý về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo bước ngoặt trong nhận thức khoa học khi đặt con người trong chỉnh thể các quan hệ xã hội và thực tiễn lịch sử, coi con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, vừa là chủ thể sáng
tạo và cải biến xã hội thông qua hoạt động thực tiễn.
Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế gắn với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số, đang đặt ra những yêu cầu mới đối với con người Việt Nam. Sự biến đổi nhanh của môi trường kinh tế - xã hội và hệ giá trị đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, biện chứng về con người. Vì vậy, việc vận dụng và phát triển sáng tạo triết lý về con người của chủ nghĩa Mác vào điều kiện thực tiễn Việt Nam có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với xây dựng con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Bài viết được triển khai trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem con người là chỉnh thể thống nhất giữa tự nhiên và xã hội, đồng thời là chủ thể của hoạt động thực tiễn và tiến trình lịch sử. Từ đó, vấn đề được luận giải trong mối quan hệ biện chứng giữa con người với điều kiện kinh tế - xã hội, gắn với bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu, như phân tích - tổng hợp, lịch sử - lôgíc, so sánh và khái quát hóa khoa học, nhằm làm rõ giá trị lý luận cơ bản trong triết lý về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thời gắn với yêu cầu thực tiễn của việc phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh mới.
3. Triết lý về con người trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen
Thứ nhất, con người là thực thể tự nhiên - xã hội.
Khác với cách tiếp cận siêu hình và duy tâm trong triết học phương Tây cổ điển, C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm con người là một chỉnh thể thống nhất giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Con người vừa mang đặc điểm sinh học, vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử - xã hội; trong đó, tự nhiên là tiền đề, còn xã hội giữ vai trò quyết định bản chất người.
Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và khuynh hướng tự nhiên thuần túy của Phoi ơ bắc, khẳng định: “Con người không chỉ là thực thể tự nhiên nó là thực thể tự nhiên có tính chất người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 42: 234). Theo đó, con người không phải thực thể thuần sinh học, mà luôn gắn với “tính người”, tức đời sống và các quan hệ xã hội. Đồng thời, con người gắn bó hữu cơ với tự nhiên như “thân thể vô cơ” của mình: “Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người.... Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người là gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của
giới tự nhiên” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 42: 135). Tuy nhiên, bản chất con người không dừng ở phương diện tự nhiên. Để tồn tại, trước hết con người phải thỏa mãn nhu cầu vật chất: “Muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 40). Trong quá trình sản xuất những tư liệu ấy, con người hình thành đời sống xã hội và khẳng định “tính người”: “Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 29). Lao động vì vậy vừa bảo đảm tồn tại vật chất, vừa quyết định sự hình thành và phát triển bản chất xã hội của con người.
Từ đó, có thể thấy, hai phương diện tự nhiên và xã hội luôn thống nhất, tác động biện chứng với nhau; trong đó, yếu tố xã hội giữ vai trò quyết định. Như C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối với con người xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái khâu liên hệ con người với con người, mới là tồn tại của con người đối với người khác và đối với người đó, mới là nhân tố sinh hoạt của hiện thực con người; chỉ có trong xã hội, tự nhiên mới biểu hiện ra là cơ sở của sự tồn tại có tính chất người của bản thân con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 42: 170).
Thứ hai, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội.
Xuất phát từ tiền đề rằng con người hiện thực muốn tồn tại phải sản xuất ra đời sống vật chất của mình, C.Mác khẳng định hành vi lịch sử đầu tiên của con người là “sản xuất ra bản thân đời sống vật chất”. Tuy nhiên, để đi đến luận điểm khoa học về bản chất con người, C.Mác không chỉ kế thừa mà còn phê phán sâu sắc quan niệm của Phoiơbắc. Trong Luận cương về Phoiơbắc, ông chỉ rõ hạn chế căn bản của Phoiơbắc là đã nhìn nhận con người như một thực thể tự nhiên - cảm tính, nhưng lại mang tính trừu tượng, phi lịch sử, tách rời khỏi những quan hệ xã hội hiện thực. Vượt qua hạn chế đó, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt, mà là tổng hòa các quan hệ xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 19). Điều này khẳng định bản chất con người được hình thành và biểu hiện trong hệ thống các quan hệ xã hội cụ thể; “tổng hòa” không phải phép cộng cơ học, mà là sự thống nhất biện chứng, quy định sự vận động và phát triển của con người.
Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận con người hiện thực trong những điều kiện lịch sử xác định: “là những con người, không phải những con người ở trong một tình trạng biệt lập và cố định tưởng tượng mà là những con
người trong quá trình phát triển - quá trình phát triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những điều kiện nhất định” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 38). Vì vậy, nhận thức con người phải đặt trong mối liên hệ với hoàn cảnh sống, hoạt động thực tiễn và các quan hệ xã hội cụ thể. Bản chất con người không bất biến, mà luôn vận động và biến đổi cùng các quan hệ xã hội; trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo và cải biến xã hội, qua đó không ngừng hoàn thiện bản thân.
Thứ ba, con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử.
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghgen, con người là sản phẩm của lịch sử, được hình thành từ quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội. Là “thân thể vô cơ” của con người, tự nhiên tồn tại độc lập, nhưng sự sống và phát triển của con người luôn phụ thuộc vào nó; vì vậy, con người phải tôn trọng quy luật và sống hài hòa với tự nhiên.
Đồng thời, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, bởi thông qua hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người sáng tạo nên đời sống xã hội, cải biến tự nhiên, hình thành các quan hệ xã hội và hoàn thiện bản thân. Lao động chính “là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng
tạo ra bản thân con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 20: 641). Trên cơ sở đó, C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán các quan điểm duy tâm, thần học khi tuyệt đối hóa lực lượng siêu nhiên hay “ý niệm lịch sử”, đồng thời khẳng định: “Lịch sử không làm gì hết…. Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 2: 141). Con người là chủ thể của lịch sử, nhưng sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo những quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan. Vì vậy, để cải tạo và thúc đẩy xã hội phát triển, con người phải nhận thức đúng và vận dụng phù hợp các quy luật khách quan đó trong thực tiễn.
Như vậy, lịch sử không phải thực thể tự thân, mà là kết quả của hoạt động có ý thức của con người hiện thực. Với nhu cầu, lợi ích và mục đích của mình, con người trực tiếp tạo ra các biến đổi lịch sử, đồng thời nâng cao tính tự giác, khi “bắt đầu tự mình tạo ra lịch sử của chính mình một cách hoàn toàn tự giác” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 19: 330). Chính thông qua lao động và sáng tạo, con người đã tạo nên các giá trị và nền văn minh của nhân loại.
Thứ tư, giải phóng con người - mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội.
Trong lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, giải phóng con người vừa là nội dung trung tâm, vừa là mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội. Trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các ông không chỉ dừng ở yêu cầu giải phóng chính trị hay pháp lý, mà hướng tới giải phóng toàn diện con người trên cơ sở những điều kiện vật chất - xã hội hiện thực. Theo đó, giải phóng con người là “cái mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi phải lật đổ tất cả mọi quan hệ trong đó con người là một sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bất lực, bị khinh rẻ” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 19: 580-581), tức xóa bỏ các quan hệ áp bức, tha hóa để con người phát triển đầy đủ năng lực của mình.
Sự nghiệp này gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng toàn nhân loại, dựa trên tiền đề quyết định là sự phát triển của lực lượng sản xuất và xóa bỏ chế độ tư hữu tư liệu sản xuất. Như C.Mác chỉ rõ: “Người ta mỗi lần đều giành được tự do chừng nào việc đó không phải do lý tưởng về con người mà do lực lượng sản xuất hiện hành quyết định và cho phép” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 632-633). Khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ cao, việc xóa bỏ chế độ tư hữu và phân công lao động áp đặt sẽ mở đường cho sự liên hợp tự do giữa các cá nhân: “Việc xóa bỏ chế độ tư hữu và sự phân công lao động cũng đồng thời là sự liên hợp những cá nhân do lực lượng sản xuất hiện đại và những quan hệ thế giới tạo nên” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 644). Đồng thời, giải phóng con người phải gắn với việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, khắc phục tình trạng tha hóa. Trong các xã hội trước đó, “hành động của bản thân con người sẽ trở thành một lực lượng xa lạ, đối lập với con người, nô dịch con người, chứ không phải bị con người thống trị” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 47); còn trong xã hội cộng sản, “mỗi người đều có thể tự hoàn thiện mình trong bất cứ lĩnh vực nào thích” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 47). Để đạt được điều đó, theo các ông, cách mạng xã hội chủ nghĩa là tất yếu, nhằm xóa bỏ quan hệ áp bức và cải biến chính con người: “Chỉ có trong cách mạng giai cấp đi lật đổ giai cấp khác mới có thể quét sạch mọi sự thối nát của chế độ cũ đang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng cơ sở mới cho xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2004, tập 3: 100-101).
Như vậy, giải phóng con người được xem là một quá trình lịch sử - xã hội lâu dài, gắn với phát triển lực lượng sản xuất, cải biến quan hệ xã hội và vai trò chủ thể tích cực của con người, hướng tới một xã hội mà ở đó mỗi cá nhân được phát triển tự do, toàn diện.
4. Hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và những yêu cầu đối với phát triển con người Việt Nam
4.1. Tác động của hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đến phát triển con người Việt Nam hiện nay
Thế giới hiện nay đang bước vào một giai đoạn phát triển vượt bậc với sự
bùng nổ của công nghệ số và toàn cầu hóa. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các thành tựu như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), robot thông minh… đang thay đổi toàn diện mọi mặt đời sống xã hội. Trong đó, con người là yếu tố vừa chịu tác động trực tiếp vừa đóng vai trò trung tâm để thích ứng và dẫn dắt các tiến bộ khoa học - công nghệ.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ mục tiêu đưa đất nước trở thành một quốc gia phát triển, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sớm hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: “Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 36). Trong đó, “phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 65). Đồng thời, chiến lược chuyển đổi số quốc gia cũng đặt ra yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng nhanh với công nghệ và hội nhập quốc tế.
Xét về cơ hội, quá trình hội nhập quốc tế gắn với chuyển đổi số đang mở ra những điều kiện thuận lợi chưa từng có cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Trước hết, hội nhập góp phần mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, khoa học - công nghệ tiên tiến và các giá trị văn hóa nhân loại, qua đó nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Trong xây dựng, phát triển con người, nguồn nhân lực được xác định là chìa khóa, là đột phá chiến lược để phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tập II: 56). Bên cạnh đó, chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất mà còn tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy năng lực và tiềm năng sáng tạo của mình. Sự phát triển của kinh tế số, kinh tế dữ liệu và các mô hình sản xuất mới mở rộng cơ hội tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và nguồn lực phát triển. Trong bối cảnh đó, các năng lực như năng lực số, tư duy số và khả năng sáng tạo trong môi trường số ngày càng trở thành yếu tố then chốt, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực.
Mặc dù mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đồng thời cũng đặt ra những thách thức đáng kể đối với sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Một là, thách thức về chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Hội nhập quốc tế và chuyển đổi số làm gia tăng áp lực cạnh tranh trên thị trường lao động, đòi hỏi người lao động không chỉ có trình độ chuyên môn mà còn phải liên tục cập
nhật tri thức và nâng cao năng lực thích ứng. Sự phát triển của tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang làm biến đổi sâu sắc cơ cấu việc làm, có xu hướng từng bước thay thế lao động giản đơn, từ đó gia tăng nguy cơ thất nghiệp và việc làm không bền vững đối với nhóm lao động có trình độ thấp.
Mặc dù Việt Nam có lợi thế về quy mô lao động, song “chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và khả năng tự học, kỹ năng sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập II: 70). Trong khi đó, cơ cấu đào tạo mất cân đối, tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn diễn ra khá phổ biến. Lượng lao động có trình độ đại học và sau đại học gia tăng, song nền kinh tế lại thiếu lực lượng lao động kỹ thuật có tay nghề ở trình độ cao đẳng và trung cấp: “Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2024 là 28,3%” (Nhật Linh, 2025). Bên cạnh đó, nhiều lao động còn hạn chế về ngoại ngữ, công nghệ thông tin và kỹ năng mềm, dẫn đến sự chênh lệch giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. “Việc kết nối cung - cầu lao động chưa đáp ứng yêu cầu xã hội, người lao động làm việc không phù hợp với ngành, nghề được đào tạo; một số sinh viên, kỹ thuật viên ra trường phải đào tạo lại mới đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng” (Phạm Thị Hương, 2026).
Như vậy, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là yêu cầu về phát triển kinh tế, mà còn là nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi phát triển con người toàn diện, có tri thức, kỹ năng và khả năng thích ứng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập và chuyển đổi số.
Hai là, nguy cơ gia tăng bất bình đẳng do chênh lệch trong tiếp cận và sử dụng công nghệ số. Chuyển đổi số và sự phát triển khoa học - công nghệ vừa tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng, vừa mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, việc làm và thu nhập. Tuy nhiên, sự khác biệt trong khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ giữa các nhóm dân cư, vùng miền và tầng lớp xã hội có thể làm gia tăng bất bình đẳng, đặc biệt là bất bình đẳng về thu nhập và cơ hội phát triển. Những nhóm có điều kiện, kỹ năng và khả năng thích ứng tốt sẽ chiếm ưu thế, trong khi các nhóm yếu thế đứng trước nguy cơ bị tụt lại phía sau.
Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, mặc dù số lượng người dùng Internet và quy mô kinh tế số tăng nhanh, song khoảng cách số vẫn khá rõ rệt: “Tỷ lệ kết nối Internet tại thành thị cao hơn nông thôn khoảng 20%. Chỉ khoảng 1/3 hộ nghèo nhất có Internet tại nhà. Ở vùng dân tộc thiểu số, tỷ lệ tiếp cận Internet còn thấp hơn nhiều” (Thạch Hương và cộng sự, 2025). Điều này cho thấy, lợi ích từ
chuyển đổi số chưa được phân bổ đồng đều, khiến khoảng cách số trở thành một biểu hiện mới của bất bình đẳng xã hội. Vì vậy, nếu thiếu các chính sách điều tiết và hỗ trợ phù hợp, chuyển đổi số có thể làm gia tăng phân hóa xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm cơ hội tiếp cận công nghệ công bằng, tạo điều kiện để mọi người đều có thể tham gia và hưởng lợi từ tiến trình số hóa.
Ba là, tác động của môi trường số đến hệ giá trị, đạo đức và lối sống của con người. Sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng và mạng xã hội đang ảnh hưởng sâu sắc đến hệ giá trị, đạo đức và lối sống, đặc biệt trong thanh niên. Trong bối cảnh thông tin đa chiều, khó kiểm soát, các biểu hiện lệch chuẩn về văn hóa, lối sống, cùng với nguy cơ suy giảm niềm tin và bản lĩnh chính trị có thể gia tăng nếu thiếu định hướng đúng đắn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng mạng xã hội quá mức có thể dẫn đến tình trạng “nghiện”, khi “một bộ phận thanh niên đã rơi vào tình trạng thái quá, có biểu hiện bị lệ thuộc, làm ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc, học tập” (Lê Hải, 2017: 138). Điều này cho thấy, môi trường số không chỉ là công cụ mà còn có thể chi phối nhận thức và hành vi. Hệ quả là sự gia tăng lối sống thờ ơ, giảm sút trách nhiệm xã hội và nguy cơ mai một các giá trị đạo đức truyền thống. Nếu không được định hướng kịp thời, những tác động này có thể làm xói mòn nền tảng văn hóa, đạo đức, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển con người Việt Nam hiện nay.
4.2. Những yêu cầu đặt ra đối với phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số hiện nay
Thứ nhất, phát triển tư duy số, năng lực công nghệ và khả năng thích ứng.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, con người Việt Nam cần hình thành tư duy mở, linh hoạt và khả năng thích ứng cao với công nghệ. Mỗi cá nhân không chỉ dừng lại ở việc sử dụng công nghệ, mà cần có năng lực hiểu, phân tích và vận dụng hiệu quả công nghệ trong học tập, lao động và đời sống xã hội. Khi đó, năng lực làm chủ công nghệ trở thành điều kiện thiết yếu để hội nhập và phát triển bền vững. Vì vậy, giáo dục và đào tạo cần chú trọng phát triển năng lực số, gắn lý thuyết với thực hành, đồng thời bồi dưỡng tư duy phân tích, logic và sáng tạo trong môi trường số. Đây là nền tảng để con người không chỉ thích ứng mà còn chủ động tham gia và đóng góp vào quá trình phát triển xã hội số.
Thứ hai, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế gắn với bản lĩnh văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, con người Việt Nam cần có năng lực hội nhập vững vàng, thể hiện ở khả năng giao tiếp đa văn hóa, sử dụng ngoại ngữ
và xử lý thông tin toàn cầu, qua đó tham gia hiệu quả vào các không gian hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với hòa tan, mà là quá trình tiếp thu có chọn lọc trên nền tảng giữ gìn bản sắc dân tộc. Do vậy, bản lĩnh văn hóa giữ vai trò cốt lõi, giúp mỗi cá nhân biết sàng lọc giá trị, tiếp nhận tinh hoa nhân loại và hạn chế các yếu tố lệch chuẩn. Điều này không chỉ thể hiện ở sự trân trọng truyền thống, mà còn ở năng lực thích ứng và đối thoại trong môi trường đa văn hóa. Đây là điều kiện để con người Việt Nam hội nhập sâu rộng mà vẫn giữ vững bản sắc dân tộc.
Thứ ba, tăng cường giáo dục và bồi dưỡng đạo đức, lối sống và trách nhiệm xã hội, bảo đảm con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí tuệ, thể chất lẫn tinh thần.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số, yêu cầu về đạo đức, lối sống và trách nhiệm xã hội của con người Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết. Sự phát triển không chỉ đo bằng thành tựu vật chất, mà còn phụ thuộc vào nền tảng giá trị nhân văn và tinh thần cộng đồng. Con người Việt Nam cần chú trọng hình thành và củng cố hệ giá trị đạo đức với các chuẩn mực như trung thực, nhân ái, tôn trọng pháp luật và ý thức trách nhiệm đối với gia đình, xã hội. Đồng thời, xây dựng lối sống văn minh, tiết kiệm, thân thiện với môi trường, khắc phục xu hướng thực dụng, lệ thuộc quá mức vào môi trường mạng. Trách nhiệm xã hội cần được thể hiện không chỉ ở việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức và pháp luật, mà còn ở sự chủ động tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp vào sự phát triển bền vững của cộng đồng và đất nước.
5. Vận dụng triết lý về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen vào phát triển con người Việt Nam hiện nay
Việc vận dụng triết lý về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thực tiễn Việt Nam hiện nay cần được thực hiện theo hướng vừa bảo đảm tính kế thừa về mặt lý luận, vừa phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Theo đó, phát triển con người Việt Nam phải được tiếp cận như một quá trình thống nhất giữa mục tiêu, phương thức và hệ thống điều kiện bảo đảm.
Thứ nhất, khẳng định vai trò trung tâm của con người trong phát triển đất nước.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định con người không chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, mà còn là chủ thể tích cực cải tạo hiện thực và sáng tạo lịch sử. Quan điểm đó đặt con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển, coi sự phát triển toàn diện cá nhân là mục tiêu cao nhất và thước đo giá trị nhân văn của xã hội.
Vận dụng quan điểm này vào thực tiễn Việt Nam, việc đặt con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển là yêu cầu tất yếu. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 126). Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người (…) Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 47).
Thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế cho thấy chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định trong việc khai thác hiệu quả các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên và công nghệ. Do đó, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trực tiếp của phát triển bền vững.
Thứ hai, gắn phát triển con người với giáo dục và lao động sáng tạo.
Xuất phát từ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò quyết định của hoạt động thực tiễn đối với sự hình thành và phát triển con người, có thể khẳng định rằng, giáo dục và lao động là hai phương thức cơ bản trong quá trình phát triển con người. Theo đó, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà phải hướng tới phát triển năng lực tư duy khoa học, kỹ năng thực hành, khả năng sáng tạo và năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của môi trường xã hội hiện đại. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay giáo dục càng phải gắn chặt vớiyêu cầu phát triển năng lực số, tư duy phản biện và khả năng học tập suốt đời. Đồng thời, cùng với giáo dục, lao động là phương thức trực tiếp hiện thực hóa năng lực con người. Trong điều kiện hiện nay, lao động không chỉ là hoạt động sản xuất vật chất đơn thuần mà ngày càng mang tính sáng tạo, gắn với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thông qua lao động, con người không chỉ tạo ra của cải vật chất, mà còn tự hoàn thiện năng lực, phẩm chất và vị thế xã hội của mình.
Thứ ba, phát triển con người toàn diện cả về phương diện thể chất và tinh thần.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố tự nhiên và xã hội, vì vậy sự phát triển con người phải là sự phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần. Đây chính là mục tiêu cốt lõi của quá trình phát triển con người trong mọi xã hội.
Vận dụng quan điểm đó vào điều kiện Việt Nam hiện nay, phát triển con người toàn diện được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển đất nước. Điều này không chỉ bao gồm việc nâng cao đời sống vật chất như thu nhập, việc làm và phúc lợi xã hội, mà còn bao hàm việc nâng cao đời sống tinh thần, giá trị văn hóa và hệ giá trị đạo đức của con người.
Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức
dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tập I: 99). Điều đó cho thấy, mục tiêu phát triển con người không chỉ dừng ở nâng cao năng lực lao động, mà hướng tới hình thành những con người phát triển hài hòa, có nhân cách và bản lĩnh văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
Thứ tư, tăng cường vai trò của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển con người.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con người chỉ có thể phát triển toàn diện trong một xã hội công bằng, dân chủ và nhân văn. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập và bảo đảm các điều kiện cần thiết và định hướng đúng đắn cho quá trình phát triển toàn diện con người.
Ở Việt Nam, quan điểm “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 47) được xác định nhất quán. Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo trong hoạch định chiến lược và định hướng chính sách về giáo dục, y tế, việc làm, an sinh và văn hóa; Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực hiện và phân bổ nguồn lực, đồng thời xây dựng môi trường pháp lý minh bạch nhằm phát huy năng lực và sự sáng tạo của con người. Các tổ chức chính trị - xã hội, như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn,… đóng vai trò cầu nối giữa Nhân dân và hệ thống chính trị, thông qua tuyên truyền, giám sát và hỗ trợ cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức, phát huy trách nhiệm công dân và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình phát triển đất nước.
Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số, sự phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội càng trở nên cần thiết để ứng phó với các thách thức như bất bình đẳng số, phân hóa xã hội và suy giảm giá trị văn hóa. Vì vậy, chính sách phát triển con người cần gắn với dự báo xu hướng, lắng nghe Nhân dân và ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và thích ứng với bối cảnh mới.
6. Kết luận
Tư tưởng về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tiến bộ trong lịch sử triết học, đồng thời khắc phục những hạn chế của các quan niệm trước đây, qua đó xây dựng một cách tiếp cận khoa học và toàn diện về con người. Đây là nền tảng lý luận quan trọng cho việc hình thành quan niệm về con người phát triển toàn diện - chủ thể có khả năng sáng tạo, tự do, nhân văn và không ngừng hoàn thiện bản thân trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, những giá trị tư tưởng
đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự đối với sự phát triển con người ở Việt Nam. Phát triển con người không chỉ hướng đến nâng cao trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp và khả năng thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ mà còn chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và năng lực sáng tạo. Chỉ khi con người được phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ, nhân cách và năng lực đổi mới sáng tạo thì mới có thể đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh mới.
Tài liệu tham khảo
1. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập. Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập. Tập 2. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
3. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập. Tập 19. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
4. C.Mác và Ph.Ăngghen. (2004). Toàn tập. Tập 3. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
5. C.Mác và Ph.Ăngghen. (2004). Toàn tập. Tập 20. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
6. C.Mác và Ph.Ăngghen. (2004). Toàn tập. Tập 42. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
10. Lê Hải. (2017). Phương tiện truyền thông xã hội với giới trẻ Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. 11. Phạm Thị Hương. (2026). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giảipháp (https://chinhtrivaphattrien.vn/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luongcao-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trangva-giai-phap-a9781.html). Truy cập ngày 14/2/2026.
12. Nhật Linh. (2025). Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động (https:// daibieunhandan.vn/chat-luong-nguonnhan-luc-chua-dap-ung-nhu-cau-thitruong-lao-dong-10362482.html). Truy cập ngày 21/3/2025.
13. Thạch Hương, Tuệ Khang. (2025). Bất bình đẳng số và nguy cơ đẩy nhiều người ra ngoài lề phát triển (https:// phunuvietnam.vn/bat-binh-dang-so-vanguy-co-day-nhieu-nguoi-ra-ngoai-lephat-trien-238251210163654701.htm). Truy cập ngày 10/12/2025.
14. Vũ Công Thương. (2017). Một số vấn đề triết học về con người. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả: Vũ Công Thương - đăng trên Tạp chí Triết học số 4 năm 2026.