image banner
            VI | EN
CÔNG BẰNG MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG MÔI TRƯỜNG - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LÝ LUẬN
Lượt xem: 3

Tóm tắt: Công bằng môi trường là chủ đề đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, đây lại là lĩnh vực còn ít được trực tiếp bàn đến, nhất là từ góc độ các nghiên cứu lý luận. Tính chất phức tạp của chủ đề này đòi hỏi phải có cái nhìn liên ngành giữa các khoa học, trong đó không thể thiếu vắng sự luận giải từ phương diện triết học và sự kết nối với các khoa học khác. Xuất phát từ nhận định trên, thông qua bài viết này, tác giả muốn làm rõ hai vấn đề chủ yếu sau đây: Một là, công bằng môi trường là gì, nó liên quan như thế nào với các khái niệm như công bằng, bình đẳng và môi trường? Hai là, từ phương diện lý luận, để thực hiện công bằng môi trường cần phải tuân theo những nguyên tắc nào?

Từ khóa: Công bằng, bình đẳng, môi trường, công bằng môi trường, nguyên tắc công bằng môi trường.


1. Công bằng môi trường

Thứ nhất, về khái niệm công bằng.

Về khái niệm công bằng, hiện có khá nhiều định nghĩa, song ở phương diện khái quát nhất, công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân/nhóm xã hội với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội. Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được xem là bất công [Xem: 1, tr.650]. Trong hầu hết các nghiên cứu, khái niệm công bằng có mối quan hệ mật thiết với khái niệm bình đẳng.

Bình đẳng (được hiểu với tư cách bình đẳng xã hội) là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội về các cơ hội và lợi ích, không chỉ về phương diện kinh tế mà cả về phương diện pháp lý, chính trị, văn hóa dù năng lực, vai trò, sự cống hiến của người này khác người kia [Xem: 2, tr.8].

Những tranh luận về hai khái niệm này và mối quan hệ giữa chúng trong nghiên cứu lý luận hiện vẫn đang tồn tại. Song, trong phạm vi bài viết này, tác giả nhất trí với ý kiến của một số nhà nghiên cứu khi cho rằng công bằng và bình đẳng là hai khái niệm tuy gần nhau nhưng vẫn có sự khác biệt. Nói tới bình đẳng là muốn nói tới sự ngang ngang bằng nhau giữa người và người về một phương diện nào đó, trong khi đó, công bằng là một dạng của bình đẳng, đó là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện hoàn toàn xác định [Xem: 3, tr.249]. Cũng xin nói thêm, cả hai khái niệm công bằng và bình đẳng được dùng ở đây có nội hàm tương đương với công bằng xã hội và bình đẳng xã hội với ý nghĩa xét hai phạm trù này trong lĩnh vực xã hội, tức là trên phương diện các quan hệ người.

Thứ hai, về khái niệm môi trường.

Từ góc độ triết học, “Môi trường là toàn bộ những điều kiện mà trong đó con người sinh sống. Khái niệm môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên, và môi trường xã hội” [4, tr.346].

Cũng trong phạm vi triết học, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đưa ra khái niệm môi trường từ góc độ sinh thái mà tác giả gọi là môi trường sinh thái. Theo đó, “môi trường sinh thái bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể. Đối với con người, môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội” [5, tr.6]. Theo chúng tôi, đây là định nghĩa cụ thể hơn, có tính chất cầu nối giữa quan niệm về môi trường từ phương diện lý luận triết học với quan niệm về môi trường của các khoa học cụ thể.

Trên phương diện thực tiễn, tại Việt Nam, trong lần sửa đổi năm 2014 Luật bảo vệ môi trường đưa ra định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đến sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.

Từ các cách hiểu trên có thể thấy, để tồn tại và phát triển, con người cần phải có một môi trường trong lành với ý nghĩa duy nhất là môi trường mà ở đó đảm bảo các điều kiện sống của con người. Điều đó có nghĩa là môi trường sống của con người không bị đe dọa bởi các yếu tố ô nhiễm về mặt vật lý, hóa học, sinh học. Đây cũng là yêu cầu cơ bản dẫn đến những đòi hỏi về quyền môi trường của con người. Khi đề cập đến thuật ngữ môi trường và các vấn đề liên quan đến môi trường, trong đó có công bằng môi trường, trong bài viết này, chúng tôi sẽ tham khảo các cách hiểu về môi trường như trên.

Trong bối cảnh hiện nay, khi nhân loại đang phải đối mặt với những vấn nạn môi trường, với những hệ lụy nghiêm trọng về mặt xã hội và con người của nó, việc truy tìm những nguyên nhân của tình trạng này là việc làm hết sức cấp bách. Ở đây, những nguyên nhân có nguồn gốc từ xã hội, từ mối quan hệ giữa con người với con người trong toàn bộ tiến trình sản xuất và đời sống xã hội đã được thế giới quan tâm, mà một trong những quan tâm đó là công bằng về môi trường, nói ngắn gọn là công bằng môi trường.

Thứ ba, khái niệm công bằng môi trường.

 Công bằng môi trường ra đời với tư cách một khái niệm ở Mỹ vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Thuật ngữ này có hai cách sử dụng. Thứ nhất, nó chỉ một phong trào xã hội tập trung vào phân phối những lợi ích và chia sẻ những gánh nặng môi trường. Thứ hai, nó chỉ một lĩnh vực nghiên cứu liên ngành của khoa học xã hội bao gồm các lý thuyết về môi trường, lý thuyết về công bằng, luật pháp môi trường, quản lý môi trường, chính sách môi trường và các vấn đề về kế hoạch hóa, phát triển bền vững, và sinh thái học chính trị [Xem: 6].

Trên thực tế, công bằng môi trường còn được hiểu là sự cư xử bình đẳng và là mối quan tâm đến mọi dân tộc không kể màu da, chủng tộc, nguồn gốc dân tộc, thu nhập; là sự quan tâm đến phát triển, đến việc thi hành, thực thi luật pháp, quy định, và các chính sách môi trường. EPA (Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ - Environmental Protection Agency) đặt ra mục tiêu này với tất cả các cộng đồng và các cá nhân. Tổ chức này cũng cho rằng, công bằng môi trường sẽ đạt được khi mọi người cùng hài lòng với mức độ bảo vệ mình và cộng đồng khỏi các mối nguy hại về sức khỏe, về môi trường và sự tiếp cận bình đẳng với quá trình ra quyết định để có được môi trường lành mạnh, ở đó họ có thể sống, học tập và làm việc [Xem: 7].

Một quan niệm khác cho rằng công bằng môi trường bao gồm sự phân phối bình đẳng những rủi ro và cả những lợi ích môi trường; nhận thức về lối sống của cộng đồng, tri thức mang tính địa phương, sự khác biệt văn hóa; khả năng của các cộng đồng và mỗi cá nhân thực hiện chức năng của mình và được phát triển trong xã hội.

Về mặt lý thuyết, trong cuốn “Defining Environmental Justice: Theories, Movements, and Nature” David Schlosberg cho rằng, một lý thuyết và thực tiễn công bằng môi trường nhất thiết phải bao gồm cả các khái niệm về công bằng lẫn các quan niệm về công bằng trên cơ sở nhận thức, trên cơ sở các khả năng và sự tham dự (N.T.L.H. nhấn mạnh). Mục tiêu của nghiên cứu công bằng môi trường là phát triển một quan niệm rộng, toàn diện và tích hợp về công bằng có thể ứng dụng được trong các mối quan hệ khi giải quyết các vấn đề về rủi ro môi trường; vấn đề dân số và mối quan hệ giữa các cộng đồng với giới tự nhiên bên ngoài con người [Xem: 8].

Từ những ý kiến trên, theo chúng tôi, một cách khái quát, có thể hiểu công bằng môi trường là sự đảm bảo những nhu cầu, lợi ích mang tính chất tự nhiên, khách quan của con người, đó là nhu cầu được sống và phát triển trong môi trường được bảo đảm tốt, không gây hại đến đời sống con người, theo những quy chuẩn cho phép trên cơ sở pháp lý.

Như vậy, nói đến công bằng môi trường thực chất là nói đến bình đẳng về các cơ hội thụ hưởng môi trường cũng như chia sẻ trách nhiệm đối với các rủi ro môi trường; về sự tương hợp giữa quyền và nghĩa vụ của con người tiếp cận, thụ hưởng các điều kiện, nguồn lợi từ môi trường sống của con người.

Chính vì thế, bàn đến công bằng môi trường cũng có nghĩa là phải bàn đến những nội dung cơ bản của nó, đó là quyền và trách nhiệm của con người về phương diện môi trường.

Thứ tư, vấn đề quyền môi trường của con người.

Cho đến nay, trong một loạt các nghị quyết, Ủy ban quyền con người của Liên Hợp quốc trước đó (UNCHR) và Hội đồng quyền con người của Liên Hợp quốc (UNHRC) đã chú ý đến mối quan hệ giữa một môi trường an toàn, khỏe mạnh và sự thụ hưởng nó với tư cách một quyền tự nhiên của con người [Xem: 9]. Quan niệm trên đây của UNCHR tập trung vào ba chiều cạnh chính trong mối quan hệ lẫn nhau giữa quyền con người và bảo vệ môi trường:

Một là, môi trường là tiền đề tiên quyết cho việc thụ hưởng quyền con người. Chiều cạnh này nhấn mạnh nghĩa vụ đối với quyền con người của tất cả các bên liên quan, trong đó nhà nước đóng vai trò chính. Tất cả các chủ thể nhất thiết phải tuân theo và chấp nhận thực hiện đầy đủ các quyền về môi trường của con người.

Hai là, chỉ rõ những quyền môi trường của con người bao gồm: Quyền tiếp nhận thông tin; quyền tham dự vào quá trình ra các quyết định liên quan đến môi trường; quyền bình đẳng trong tiếp cận những vấn đề môi trường, đặc biệt là tiếp cận với những quyết định liên quan đến môi trường.

Ba là, khẳng định quyền có được sự an toàn, khỏe mạnh của con người và có được môi trường cân bằng về sinh thái. Đây là một quyền tự thân của con người.

Hiện nay, trước những vấn đề môi trường cấp bách do biến đổi khí hậu gây ra, Liên Hợp quốc còn đưa ra bản Tuyên bố chung nhân dịp Ngày môi trường Thế giới (5-6-2015) có tên: Biến đổi khí hậu và quyền con người [Xem: 10] nhằm nhấn mạnh đến khả năng biến đổi khí hậu đe dọa quyền môi trường của con người.

Thứ năm, vấn đề trách nhiệm môi trường [Xem: 11].

Nói đến công bằng môi trường, bên cạnh việc khẳng định các quyền, còn phải xác định được trách nhiệm môi trường.

Từ góc độ lý luận, trách nhiệm môi trường là một phương diện của trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm môi trường cho rằng con người không những phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đối với các cá nhân khác và đối với xã hội, mà còn phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình trước tự nhiên - môi trường sống của chính con người.

Trách nhiệm môi trường đòi hỏi con người phải hành động một cách khôn ngoan để không làm phương hại đến môi trường với tư cách toàn bộ hệ thống sinh tồn của con người và các sinh thể khác vì lợi ích của chính con người và các sinh thể đó. Con người bảo vệ môi trường không chỉ vì lợi ích của chính mình, mà còn là bảo vệ lợi ích cho các thế hệ tương lai của con người.

Ý thức được vấn đề này, trong mấy chục năm qua, các hội nghị thượng đỉnh về môi trường ở cấp độ toàn cầu đã diễn ra thường xuyên và tập trung mối quan tâm vào những vấn đề môi trường cấp bách nhất. Một trong những cột mốc quan trọng ghi dấu cho mối quan tâm này là Tuyên bố Xơ-un về đạo đức môi trường với bốn nguyên tắc cơ bản, mà một trong bốn nguyên tắc đó là chia sẻ trách nhiệm. Nguyên tắc này nói rằng: “Mọi thành viên của xã hội loài người đều có trách nhiệm duy trì sự toàn vẹn của môi trường toàn cầu như một Hệ thống - sự sống tổng thể. Chúng ta cần phải nhận thấy trách nhiệm này là sự thể hiện quyết tâm thực thi nghĩa vụ và sự kiên định trong bảo vệ tính toàn vẹn của môi trường toàn cầu trong cuộc sống hàng ngày. Các nỗ lực độc lập đó cần tăng cường hỗ trợ bằng việc xây dựng các mạng lưới liên kết và các nhóm trong quần chúng xã hội và chính phủ, giới công nghiệp và doanh nghiệp, cũng như các tổ chức phi chính phủ (NGOs). Nhờ sự tham gia và phối hợp hợp tác như vậy, những chính sách thích hợp sẽ có thể được xây dựng và thực hiện một cách có hiệu quả” [12]. Nguyên tắc này không chỉ khẳng định tính cấp bách của ý thức trách nhiệm của nhân loại trong việc bảo vệ môi trường với tư cách một hệ thống – sự sống chỉnh thể của con người, mà còn xác định rõ các chủ thể trách nhiệm cũng như cách thức chung thực hiện trách nhiệm này. Theo đó, các chủ thể có liên quan đến ngôi nhà chung của chúng ta, đến môi trường không chỉ ở phạm vi quốc gia, khu vực mà còn ở cả phạm vi quốc tế. Do đó, nó bao gồm tất cả các chủ thể, từ doanh nghiệp, chính phủ, các tổ chức xã hội, các cộng đồng, và nhỏ nhất là mỗi cá nhân tham dự vào xã hội.

Để hiện thực hóa quyền và trách nhiệm môi trường, cần thiết phải có những nguyên tắc định hướng cơ bản. Đây chính là cơ sở tạo dựng nên “không gian” cho phép các nội dung của công bằng môi trường có thể được hiện thực hóa.

2. Các nguyên tắc thực hiện công bằng môi trường

Một là, nguyên tắc bình đẳng.

Giống như công bằng xã hội, nguyên tắc quan trọng nhất của công bằng môi trường phải là bình đẳng. Về phương diện lý luận, C.Mác đã khẳng định rằng, bình đẳng là tiền đề tiên quyết cho công bằng, mà quan trọng nhất là bình đẳng về quyền. Trong lĩnh vực môi trường, theo chúng tôi, nguyên tắc này được cụ thể hóa như sau: Mọi cá nhân, cộng đồng trong xã hội đều có quyền như nhau trong việc tiếp cận và thụ hưởng các điều kiện sống có chất lượng, đặc biệt là các nguồn lực tự nhiên, môi trường bao gồm đất, nước, không khí, rừng, biển, khoáng sản… và các cá nhân đều phải chia sẻ các rủi ro môi trường. Như vậy, bình đẳng về môi trường phải là quyền đương nhiên của con người. Quyền này phải được hiến định trong hiến pháp và được cụ thể hóa trong các bộ luật có liên quan; được bảo vệ không chỉ bởi luật của quốc gia, mà còn được bảo vệ bởi các cam kết quốc tế. Ở đây, bình đẳng không chỉ tồn tại với tư cách một nguyên tắc định hướng cho xử lý các vấn đề liên quan đến môi trường thể hiện qua cách hành xử của các thành viên trong xã hội, mà còn được quán triệt trong các chính sách và các văn bản pháp luật của mỗi quốc gia. Đây chính là nền tảng đầu tiên cho việc xác lập những nội dung cụ thể của công bằng môi trường, về quyền và trách nhiệm môi trường của các chủ thể trong xã hội. Đồng thời, nó định hướng cho các nguyên tắc tiếp theo.

Hai là, nguyên tắc cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ.

Đây là nguyên tắc có mối liên hệ trực tiếp với nguyên tắc bình đẳng. Con người sống, tồn tại trong cộng đồng với tư cách một bộ phận của cộng đồng đó. Anh ta có quyền đương nhiên được hưởng một môi trường an toàn thì cũng đương nhiên phải có nghĩa vụ duy trì, bảo vệ môi trường đó. Việc bảo vệ này không chỉ vì lợi ích của chính anh ta, mà còn vì lợi ích của tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng, xã hội. Quyền được thụ hưởng tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng đi kèm với nghĩa vụ phải bảo vệ tài nguyên đó. Mọi hành vi xâm hại đến môi trường, đến tài nguyên, làm tổn hại đến lợi ích của tự nhiên và của người khác đều phải bị lên án, trừng phạt. Trên thực tế, nguyên tắc này được hiện thực hóa bằng các quyền môi trường và trách nhiệm môi trường được nêu trong Hiến pháp và các bộ luật, trở thành khung pháp lý cho đánh giá các hành vi môi trường, đồng thời được sử dụng để xây dựng nên khung thể chế cho sự vận hành các chính sách môi trường của một quốc gia. Như vậy, nguyên tắc này cũng là điểm tựa cơ bản cho việc xây dựng và sử dụng công cụ luật pháp trong quản lý môi trường và trong thực hiện công bằng môi trường. Trên cơ sở nguyên tắc này, người ta xây dựng nên các chế định cho việc hiện thực hóa nội dung của công bằng môi trường.

Trên thực tế, quy định về quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường là cơ sở pháp lý nền tảng, quan trọng bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền giám sát hoạt động của các bên liên quan đến môi trường và thực hiện nghĩa vụ của con người trong các hoạt động bảo vệ môi trường. Những quy định này không chỉ xác lập mối quan hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường, mà còn thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm của Nhà nước cũng như các chủ thể xã hội khác trong việc bảo vệ và phát huy quyền và nghĩa vụ con người với môi trường. Thực tiễn cho thấy, quyền được tiếp cận các thông tin, tiếp cận tư pháp và sự tham gia của công chúng có tác động rất lớn đến việc thực hiện quyền con người với môi trường. Thông qua các quy định, cộng đồng dân cư có thể thể hiện được vai trò chủ động, tích cực tham dự vào các quyết định, chính sách của nhà nước liên quan đến môi trường, thúc đẩy thực hiện dân chủ hóa các quyết định, chính sách môi trường. Khuyến khích các cá nhân, các nhóm dân cư và những người thường xuyên phải chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do các hoạt động của con người gây ra tham gia góp ý trong việc xây dựng, hoạch định các chính sách liên quan đến môi trường. Sự tham gia của các bên, trong đó có sự giám sát của cộng đồng dân cư còn nhằm hạn chế tính “áp đặt” của các cơ quan ban hành chính sách, giúp cơ quan nhà nước xây dựng được chính sách môi trường phù hợp, thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Với quy định này, mọi người có quyền tham gia giám sát các hoạt động bảo vệ môi trường, như quyền được cập nhật các thông tin về môi trường, có tiếng nói trong việc xây dựng các quyết định, chính sách về quy hoạch môi trường, tiếp cận tư pháp về các vấn đề liên quan như quyền được khiếu nại, tố cáo và bồi thường các thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Thực hiện quyền được góp ý và giám sát của dân cư đối với hoạt động của các bên có liên quan sẽ góp phần giảm thiểu nguyên nhân dẫn đến các vụ xung đột về môi trường.

Bên cạnh quyền là nghĩa vụ, đó là việc mà đạo đức hay pháp luật buộc các chủ thể xã hội phải tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, như thực hiện đóng thuế, phí và lệ phí, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường… Điểm quan trọng nhất trong nguyên tắc này là sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể xã hội. Các quy định về nghĩa vụ đối với môi trường là mặt song hành với các quy định về quyền. Cũng như quyền, nghĩa vụ được quy định trong các bộ luật liên quan đến môi trường và là một trong những công cụ quan trọng hàng đầu cho công tác quản lý nhà nước về môi trường. Việc hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường là yêu cầu cấp bách, bởi lẽ nó góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện đầy đủ quyền con người và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường hiện nay.

Ba là, nguyên tắc tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên.

Bản chất của công bằng xã hội là việc phân chia lợi ích theo nguyên tắc tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ. Đối với công bằng môi trường cũng vậy: Ai có cống hiến, đóng góp cho việc gìn giữ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên thì họ phải có quyền được thụ hưởng những thành quả từ sự đóng góp đó. Mặc dù tài nguyên thiên nhiên và môi trường là của chung song việc bảo vệ, gìn giữ, chăm sóc nó lại được thực hiện bởi những con người cụ thể với những hành động cụ thể. Mọi người có quyền như nhau (bình đẳng) trong tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, song tài nguyên đó không phải là thứ vô tận mà là hữu hạn. Vì thế, nếu chỉ biết tiêu dùng, khai thác thì đương nhiên các nguồn tài nguyên đó sẽ cạn kiệt, con người không còn gì để thỏa mãn những nhu cầu của mình.

Mặt khác, con người sống, tồn tại trong các mối quan hệ người mà ở đó lợi ích của họ là khác nhau và thường không đồng nhất với nhau. Chính vì thế, việc thụ hưởng môi trường có thể có sự khác biệt về mục tiêu. Vậy, làm thế nào để lợi ích của người này không ảnh hưởng đến lợi ích của người kia, lợi ích của nhóm này không ảnh hưởng đến lợi ích của nhóm khác trong chia sẻ tài nguyên? Ở đây, nguyên tắc tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ trong khai thác tài nguyên chính là cái buộc con người phải hành xử với nhau và hành xử với môi trường cho có tính người, chứ không phải chỉ biết khai thác tự nhiên một cách dã man, hoang dại, đồng thời đối xử với đồng loại như những kẻ thù địch. Tài nguyên, khoáng sản trên lãnh thổ của ai, của cộng đồng nào nếu họ có những đóng góp cho việc bảo tồn, gìn giữ nó (dù có ý thức hay vô thức) thì họ phải có quyền được hưởng thụ, không ai được phép tước đi quyền đó của họ. Chẳng hạn, người ta không thể vì lợi nhuận mà xây dựng nhà máy gây ô nhiễm không khí, nguồn nước của khu dân cư, thậm chí phá vỡ cảnh quan khu vực đó. Hay, việc khai thác khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh học sẽ như thế nào nếu cộng đồng dân cư khu vực đó đã phải trực tiếp gìn giữ nó qua nhiều thế hệ nhưng trong hiện tại họ lại không được thụ hưởng, thậm chí phải gánh chịu những rủi ro do hệ lụy của việc khai thác tài nguyên của các chủ thể khác gây nên…

Trong xã hội hiện đại, kinh tế thị trường nếu chỉ biết theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá sẽ dẫn đến vi phạm nguyên tắc này một cách trầm trọng, do chỗ các chủ thể kinh tế khác nhau vì theo đuổi những mục tiêu lợi ích khác nhau mà bất chấp, gây hại cho lợi ích của các nhóm khác. Tình trạng xung đột lợi ích giữa doanh nghiệp và cộng đồng địa phương nơi diễn ra các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên là minh chứng khá rõ cho sự vi phạm nguyên tắc này. Ở đây rất cần vai trò của nhà nước với tư cách chủ thể đại diện, dung hòa lợi ích giữa các bên bằng nhiều hình thức và cách thức.

Thứ tư, nguyên tắc ưu tiên nhóm yếu thế.

Nhóm yếu thế hay còn gọi là nhóm dễ bị tổn thương là tập hợp tất cả các cá nhân không hoặc khó có khả năng tự bảo vệ mình, hoặc dễ có nguy cơ rơi vào tình trạng sống bất lợi. Nhóm này gồm trẻ em, phụ nữ, những người sống ở những vùng bị thảm họa sinh thái, bị đe dọa bởi ô nhiễm và tai biến môi trường. Họ có nguy cơ dễ rơi vào đói nghèo do suy giảm hoặc mất sinh kế. Vì thế, nguyên tắc ưu tiên nhóm yếu thế là nguyên tắc đặc biệt quan trọng. Bởi, một mặt, nó thể hiện tính nhân văn của xã hội; mặt khác, nó thể hiện tính tối thượng trong tôn trọng quyền được sống, được tồn tại của con người. Nguyên tắc này còn là sự hỗ trợ, “khỏa lấp”, bao phủ những trường hợp mà nguyên tắc bình đẳng không thể thực hiện được.

Về mặt lý luận, nguyên tắc bình đẳng nhấn mạnh sự ngang nhau về quyền của mọi cá nhân trong xã hội, song không phải mọi người sinh ra đều có điều kiện, tình trạng sống như nhau, và trong quá trình sống không phải họ đều được thụ hưởng những điều kiện như nhau. Những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương như đã nêu là những minh chứng rõ nhất. Chính vì thế, thực hiện công bằng môi trường nói chung (cũng tương tự như công bằng xã hội) cần phải chú ý đến các nhóm này. Đây không chỉ là một nguyên tắc mang tính nhân văn, mà hơn thế còn là “mệnh lệnh đạo đức” đối với con người. Con người với tư cách loài không được phép để những đồng loại của mình bị loại ra khỏi đời sống, bị dồn vào bên lề của quá trình phát triển chỉ vì họ không có được các điều kiện tồn tại như những người khác.

Nếu như nguyên tắc cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ cấm/ngăn cản việc xâm hại đến lợi ích của các cá nhân khác, của các cộng đồng khác, thì hơn thế, nguyên tắc ưu tiên nhóm yếu thế đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có trách nhiệm với đồng loại, và đây là trách nhiệm đạo đức, mang tính tự giác chứ không phải thuần túy là sự bắt buộc mang tính pháp lý. Ngày nay, trước sự gia tăng của các thảm họa, tai biến, sự cố môi trường thì nhóm những người yếu thế, dễ bị tổn thương có xu hướng gia tăng. Chính vì thế, trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia, cần phải hết sức chú ý vấn đề này. Sự quan tâm của thế giới đối với nhóm này cũng ngày càng gia tăng thể hiện qua các nỗ lực trợ giúp quốc tế đối với các vùng bị thảm họa thiên tai, thảm họa sinh thái và với các đối tượng yếu thế trước những bất lợi về môi trường.

Tóm lại, có thể khẳng định, công bằng môi trường giờ đây không chỉ là vấn đề thực tiễn, mà còn là vấn đề đòi hỏi phải được giải quyết rốt ráo về mặt lý luận. Trong địa hạt này, những nghiên cứu từ góc độ triết học còn khá thiếu vắng. Chính vì thế, việc đi sâu, tìm hiểu, luận giải và nêu ra những nội dung của nó từ phương diện lý luận, lấy đó làm nền tảng triết lý cho các hành động chính sách là một trong những hướng nghiên cứu cần phải tập trung làm rõ, nhất là với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong hiện tại và tương lai gần./.

 

Tài liệu tham khảo

[1]      Từ điển bách khoa Triết học (Tiếng Nga), Nxb Nauka, Mátxcơva, 1983.

[2]       Phạm Xuân Nam, Về khái niệm “công bằng xã hội”, Tạp chí Xã hội học, số 1 (97)/2007.

[3]       Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[4]       Nguyễn Hữu Vui, Nguyễn Ngọc Long (đồng chủ biên) (2004), Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[5]       Phạm Thị Ngọc Trầm (1997), Môi trường sinh thái vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[6]        https://en.wikipedia.org/wiki/Environmental_
justice.

[7]       The United States Environmental Protection Agency.

[8]       David Schlosberg, Environmental Justice and the New Pluralism (Oxford 1999), Defining Environmental Justice: Theories, Movements, and Nature.

[9]       Xem: High Level Expert Meeting on the future of Human Rights and Environment: Moving the Global Agenda Forward, http://www.unep.org/environmentalgovernance/Events/HumanRightsandEnvironment.

[10]  http://www.ohchr.org/EN/NewsEvents/Pages/ DisplayNews.aspx?NewsID=16049&LangID=E, Joint statement by UN Special Procedures on the occasion of World Environment Day (5 June 2015).

[11]    Nguyễn Thị Lan Hương, Trách nhiệm môi trường - một phương diện của trách nhiệm xã hội, Tạp chí Triết học, 9/2009; và Trách nhiệm môi trường của Doanh nghiệp - Nhìn từ góc độ lý luận, Tạp chí triết học số 12/2012.

[12]    Tuyên bố Xơ - un về Đạo đức Môi trường, Cam kết của quần chúng, ra đời trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 25 năm ngày môi trường thế giới, 25 năm thành lập UNEP (Chương trình Môi trường Liên hợp quốc) và 5 năm Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio, được tổ chức tại Xơ-un, Hàn Quốc, ngày 4.6.1997.             

 

 

Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Thị Lan Hương- Viện Triết học

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1