QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀ KHOA HỌC Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Tóm tắt: Bước vào nửa đầu thế
kỷ XX, cùng với những ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của nền khoa học phương Tây,
mối quan hệ giữa khoa học với đạo đức Nho giáo cũng trở thành một vấn đề lớn,
thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ trí thức Việt Nam thời kỳ này. Trước câu hỏi
nền đạo đức Nho giáo có thể cùng tồn tại và đi đến sự hòa hợp với khoa học phương
Tây hay không, nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra, qua đó thể hiện những
phương án khác nhau của người trí thức Việt Nam trong việc phát triển đất nước.
Trong bài viết, chúng tôi trình bày một cách khái lược những khuynh hướng tư tưởng
chính về vấn đề này, thông qua một số nhà trí thức tiêu biểu, trải dài qua năm
thập niên đầu của thế kỷ XX.
Từ khóa: Nho giáo, đạo đức,
khoa học, nửa đầu thế kỷ XX.
Nho giáo vốn là một học thuyết
đạo đức, bất kể là bàn về những vấn đề siêu hình học hay chính trị học, nó cũng
đều mang tính đạo đức rất rõ rệt. Nho giáo xác lập nên một nền học vấn lấy sự
hoàn thiện đạo đức con người làm mục đích tối hậu. Trong khi đó, khoa học phương
Tây là cơ sở cho một nền học vấn mà mục đích của nó là khám phá thế giới ngoại
vật và thế giới con người bằng những công cụ lý tính, một nền học vấn hàm chứa
trong nó những ngưỡng vọng về sự phú cường, về khả năng chinh phục, về sự tiến
bộ, về khả năng mở rộng tri thức đến vô hạn. Một nền học vấn như vậy hẳn nhiên
xa lạ với nền học vấn vốn dựa trên Nho giáo ở Việt Nam. Vì vậy, khi khoa học
ngày càng xác lập được địa vị của mình ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, thì
mối quan hệ giữa nó với nền đạo đức Nho giáo càng trở thành một vấn đề lớn, thu
hút sự quan tâm của người trí thức Việt Nam giai đoạn này. Tuy nhiên, quan niệm
của người Việt Nam về vấn đề này không phải là thống nhất. Trên thực tế, từ thập
niên đầu tiên cho đến những năm 40 của thế kỷ XX, quan niệm về mối quan hệ giữa
đạo đức Nho giáo và khoa học của giới trí thức Việt Nam đã có nhiều biến chuyển,
đi từ khẳng định đến phủ định khả năng hòa hợp giữa hai yếu tố này, qua đó thể
hiện sự biến chuyển tư tưởng của người trí thức Việt Nam về con đường phát triển
đất nước.
1. Khuynh hướng điều hòa đạo
đức Nho giáo với khoa học phương Tây
Thập niên đầu tiên của thế kỷ
XX đồng thời cũng đánh dấu những bước đi đầu tiên của người Việt Nam trên con đường
hiện đại hóa. Bước đi ấy gắn với thế hệ nhà nho cuối mùa, những người vừa bước
ra khỏi nền học vấn và con đường lập thân cổ điển để hướng đến những giá trị mới
mà văn hóa phương Tây mang lại. Họ chính là cây cầu nối hai nền học cũ và mới, đặt
nền móng hết sức quan trọng cho những thế hệ trí thức tiếp theo. Họ là những người
đã tổ chức và tham gia phong trào Duy Tân, Đông Du, lập ra Đông Kinh Nghĩa thục.
Những nhà nho duy tân, trên
thực tế, chưa bao giờ đặt ra một cách trực tiếp vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức
Nho giáo và khoa học phương Tây, tuy nhiên, thông qua thơ văn mà họ để lại,
chúng ta có thể thấy được thái độ của họ đối với vấn đề này. Một mặt, họ là những
người cổ động nhiệt thành cho việc học tập khoa học kỹ thuật của phương Tây. Từ
Văn minh tân học sách, Tân đính quốc dân độc bản cho đến rất nhiều sách vở, thơ
ca của họ, đặc biệt là văn thơ của phong trào Đông Kinh Nghĩa thục, đều thể hiện
rất rõ quan điểm này. Đối với những nhà nho duy tân, khoa học có hai hàm nghĩa,
thứ nhất, là những thành tựu khoa học kỹ thuật mà phương Tây mang lại; thứ hai,
là các bộ môn khoa học cụ thể. Với họ, khoa học, theo cả hai hàm nghĩa đó, đều
là những thứ còn khuyết thiếu trong nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Học
tập khoa học, trong quan niệm của các nhà nho duy tân, là học tập, tiếp thu, sử
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây và đưa những bộ môn khoa
học cụ thể vào chương trình giáo dục.
Mặt khác, họ cũng đồng thời đứng
vững trên nền tảng đạo đức Nho giáo. Trong tư tưởng của họ, học tập khoa học phương
Tây là tất yếu để phát triển đất nước, nhưng về đường đạo đức, thì vẫn có thể dựa
trên nền tảng Nho giáo, cho dù Nho giáo có những lưu tệ cần phải được phê phán.
Nhìn lại những cuốn sách giáo khoa do các nhà nho của phong trào Đông Kinh Nghĩa
thục biên soạn (Tân đính quốc dân độc bản, Tân đính luân lý giáo khoa thư), có
thể thấy, chương trình giáo dục đạo đức của họ được xây trên nền đạo đức Nho học,
lấy trung, hiếu làm trung tâm, lấy tôn vua, yêu nước, giữ nghĩa cha con, anh
em, vợ chồng làm chuẩn mực [Xem:
4, tr.12-13].
Có thể nói, trong quan niệm
của tầng lớp nho sĩ duy tân thập niên đầu thế kỷ XX, đạo đức Nho giáo và khoa học
phương Tây không mâu thuẫn với nhau, một bên giữ lấy nền tảng đạo đức của xã hội,
còn bên kia thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Mặc dù chưa bàn trực tiếp đến vấn
đề mối quan hệ giữa đạo đức Nho giáo và khoa học, càng chưa đưa ra một chủ trương
điều hòa như những gì mà thế hệ trí thức ở hai thập niên tiếp theo khởi xướng
và theo đuổi, nhưng lý tưởng văn hóa của nhà nho duy tân khá gần gũi với thế hệ
kế tiếp: Tin tưởng vào sự song hành của đạo đức Nho giáo và khoa học. Tất
nhiên, về mặt tổng thể thì điểm nhìn của hai thế hệ về đạo đức Nho giáo và khoa
học là khác nhau. Thế hệ nhà nho duy tân đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh học hỏi
phương Tây, phê phán lưu tệ của nền đạo đức Nho giáo truyền thống, trong khi
xem việc giữ lấy những chuẩn mực, nguyên tắc căn bản của nền đạo đức ấy là đương
nhiên (bởi xét cho cùng, họ vẫn là những nhà nho, đứng trên lập trường của nhà
nho để duy tân đất nước). Chúng ta sẽ không còn thấy sự “đương nhiên” ấy ở thế
hệ tiếp theo, một thế hệ đã bắt đầu được thụ hưởng một nền giáo dục mới, bên
ngoài truyền thống Nho giáo. Họ không từ Nho giáo đi ra, mà họ là những người
tìm về Nho giáo.
Vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức
Nho giáo và khoa học chỉ được đặt ra và giải quyết rốt ráo bởi thế hệ trí thức
hoạt động từ cuối thập niên thứ hai trở về sau, khi mà khoa học thực sự đã được
nâng lên bình diện giá trị. Khi khoa học trở thành một giá trị, thì đồng thời
quan hệ giữa đạo đức Nho giáo và khoa học phương Tây cũng trở thành mối quan hệ
giữa hai giá trị, với một bên là giá trị cốt lõi của văn hóa phương Đông, còn
bên kia là giá trị cốt lõi của phương Tây. Trong mối quan hệ đó, người ta cần
phải trả lời câu hỏi: Khoa học có loại trừ nền đạo đức Nho giáo hay không. Câu
hỏi này chưa được đặt ra trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, song từ thập
niên thứ hai trở đi, nó lại trở thành một câu hỏi thu hút sự quan tâm của tầng
lớp trí thức. Sự suy yếu của Nho giáo trong giai đoạn này, cùng với sự trưởng
thành của một tầng lớp trí thức mới, tầng lớp trí thức thụ hưởng nền giáo dục
Tây học, thay vì nền giáo dục Nho học cổ điển, khiến cho sự lựa chọn Nho giáo
không còn là một việc tự nhiên như ở thế hệ trước. Thế hệ nho sĩ của thập niên
trước, cho dù có cấp tiến thế nào, họ vẫn có thể ung dung đứng trên nền tảng đạo
đức Nho học, như một sự đương nhiên phải thế. Với những trí thức của giai đoạn
tiếp theo, những trí thức Tây học, hoặc trí thức Nho học đã trải qua biến động
của thời cuộc, đạo đức Nho giáo trở thành một thứ mà họ hoặc đoạn tuyệt, hoặc
tìm về, chứ không phải là thứ mà họ đương nhiên thuộc về nữa. Đứng trước câu hỏi
đó, một bộ phận trí thức (đặc biệt là trí thức Tây học của những năm 1920,
1930) chọn cho mình con đường dung hòa. Tiêu biểu cho phương án đó là những trí
thức Tây học như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim và một số trí thức Nho học vẫn duy
trì những hoạt động văn hóa của mình ở giai đoạn này.
Những nhân vật đi theo
khuynh hướng này không khước từ khoa học phương Tây; trái lại, họ tiếp nối tinh
thần duy tân của thế hệ trước để cổ vũ cho khoa học, giúp lan tỏa tinh thần
khoa học trong giới trí thức.
Trưởng thành từ những năm
duy tân sôi nổi đầu thế kỷ, người trí thức giai đoạn này được trang bị một nền
tảng vững chắc hơn về văn hóa phương Tây, có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với
những thành tựu và tri thức khoa học phương Tây. Vì vậy, nhận thức của họ về
khoa học thậm chí đã vượt qua thế hệ trước, khi họ vươn lên trên những khoa học
cụ thể để hướng tới nắm bắt cái tinh thần khoa học, mà theo họ, là cốt lõi của
văn hóa phương Tây.
Đối với họ, việc học tập
khoa học phương Tây, mà ở mức độ cao nhất là đi theo tinh thần khoa học, là một
xu hướng tất yếu, không thể cưỡng lại để xây dựng một nền văn hóa mới cho dân tộc.
Ở điểm này, quan điểm của họ là thống nhất với các nhà nho duy tân thế hệ trước,
đồng thời thống nhất với cả những trí thức theo chủ trương Tây hóa toàn diện ở
những thập niên sau. Điều đó cho thấy, bước sang thập niên thứ hai, thứ ba của
thế kỷ XX, học tập khoa học phương Tây hầu như đã trở thành một xu hương chủ đạo
của giới trí thức Việt Nam. Vì vậy, sự khác biệt giữa các nhóm trí thức trong
việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa khoa học và đạo đức Nho giáo không nằm ở
chỗ thừa nhận hay không thừa nhận khoa học phương Tây, mà nằm ở thái độ đối với
đạo đức Nho giáo.
Để biện minh cho lựa chọn của
mình, nhóm trí thức theo khuynh hướng dung hòa đưa ra nhiều luận điểm khác
nhau. Trần Trọng Kim đặc biệt nhấn mạnh đến tinh thần “tùy thời” của Khổng Tử
như một cơ sở mang tính hình nhi thượng cho quan niệm điều hòa của mình. Trong
cuốn sách Nho giáo, ông đã nhiều lần nhắc đến và tán thưởng tinh thần này của
Khổng Tử: “Thiên lý thì lưu hành bất tức, mà nhân sự thì mỗi thời một khác, nếu
nhận một điều gì làm lý nhất định, rồi cứ khư khư giữ điều ấy để làm chuẩn đích
cho sự hành vi của mình, thì thành ra cố chấp và có cái thái độ thiên về cực đoan,
rất trái với cái tông chỉ phải tùy thời chấp trung. Đó là tư tưởng đặc biệt của
Khổng giáo” [8, tr.93]. Sở dĩ nói tinh thần “tùy thời” là cơ sở cho quan niệm điều
hòa của Trần Trọng Kim, bởi tinh thần ấy chí ít đã dẫn Trần Trọng Kim đến hai kết
luận: Thứ nhất, vì thiên lý lưu hành bất
tức, nên con người theo thiên lý cũng phải biến hóa luôn luôn, do đó, việc theo
thời mà học tập khoa học phương Tây là điều hoàn toàn hợp lý; thứ hai, trong chữ
“tùy thời” còn có nghĩa “chấp trung”, vì vậy, tuy theo thời mà học tập khoa học
phương Tây là cần thiết, nhưng vẫn phải “chấp trung”, không theo khoa học một
cách cực đoan, và để có sự quân bình thì phải giữ lấy nền đạo đức Nho giáo. Từ đây
chúng ta có thể hiểu được tại sao những trí thức theo đuổi lý tưởng điều hòa đều
rất mực đề cao quan niệm “trung dung” của Nho giáo. Họ đã tìm thấy ở đây một cơ
sở lý luận đầy sức nặng cho chủ trương của mình.
Bên cạnh đó, những người thuộc
phái điều hòa cũng đưa ra những luận điểm liên quan trực tiếp đến mối quan hệ
giữa đạo đức Nho giáo và khoa học. Ở đây, có hai vấn đề đặt ra: Một là, đạo đức
Nho giáo có cản trở khoa học hay không; hai là, khoa học có cần đến đạo đức Nho
giáo hay không. Mọi nỗ lực biện minh cho tính hợp lý của sự hiện diện của đạo đức
Nho giáo trong thời đại khoa học đều xoay quanh hai câu hỏi này. Với câu hỏi thứ
nhất, những trí thức theo khuynh hướng điều hòa cố gắng chứng minh rằng, đạo đức
Nho giáo không hề mâu thuẫn và do đó, không cản trở sự học tập khoa học phương
Tây. Trần Trọng Kim dựa vào “cách vật trí tri” trong Đại học để khẳng định điều
ấy: “Nho giáo trọng sự chính tâm, tu thân, nhưng vẫn lấy điều trí tri, cách vật
làm cốt yếu. Vậy đem Nho giáo mà dung hợp với khoa học ngày nay, tưởng cũng
không phải là trái với tông chỉ của Khổng Mạnh, phải tùy thời mà biến đổi. Miễn
là lúc nào cũng giữ lấy nhân nghĩa làm gốc, thì càng thay đổi bao nhiêu lại
càng thích hợp với cái chủ nghĩa của Nho giáo bấy nhiêu” [8, tr.32].
Phan Bội Châu (tất nhiên, là
Phan Bội
Châu của những năm 1930) khi
viết Khổng học đăng, dựa trên những bàn luận về “tri” và “hành” của Khổng Tử để
đưa ra nhận định: “Đức Thánh dạy người ta tri, chỉ có tri ngần ấy: dạy người ta
hành, cũng chỉ có hành ngần ấy; vẫn không thiên trọng phía nào, mà cũng không bỏ
sót phía nào. Vậy đức Khổng Tử nếu sinh ở đời bây giờ thời khoa học cũng có
nghiên cứu tới nơi, chẳng phải vì có Khổng học mà bỏ khoa học đó vậy” [2,
tr.183]. Xem cách Phan Bội Châu thích nghĩa “tri hành”, có thể hiểu rõ hơn ý của
đoạn trên: ““Tri” là thuộc về phần biết; “hành” là thuộc về phần làm. Biết thế
nào mới là có chân tri, chân thức? Làm thế nào mới là hữu thỉ, hữu chung? Chúng
ta nghĩ đến đó, tất lại phải quy công ở cách vật trí tri” [2, tr.295].
Tóm lại, cả Trần Trọng Kim và
Phan Bội Châu đều dựa trên chữ “cách vật trí tri” để khẳng định đạo đức Nho
giáo không cản trở khoa học. Theo họ, Nho giáo tuy tập trung vào tu dưỡng đạo đức,
nhưng không bỏ qua việc mở rộng tri thức trên mọi lĩnh vực, “cách vật trí tri”
không chỉ có hàm ý đạo đức, mà nó còn bao hàm quá trình nhận thức nói chung (với
đối tượng hết sức rộng là “vật” - tức sự sự vật vật trong thiên hạ, và với
thành quả cũng rất lớn là “tri” - tức mọi “chân tri, chân thức”). Với cách nhìn
đó, hiển nhiên có thể vẫn dựa vào tu dưỡng luận của Nho giáo (thành ý, chính
tâm, cách vật, trí tri, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) mà mở rộng ra
đón nhận lấy khoa học phương Tây.
Với câu hỏi thứ hai (khoa học
có cần đến đạo đức Nho giáo hay không?), những trí thức theo khuynh hướng điều
hòa đưa ra câu trả lời: Khoa học cần và phải được bổ sung bởi đạo đức Nho giáo.
Đề cao khoa học, nhưng điểm chung của những nhân vật theo khuynh hướng điều hòa
là, trong khi nhấn mạnh tầm quan trọng của khoa học, họ cũng đồng thời nói đến
mặt trái, sự khiếm khuyết của khoa học, hay nói đúng hơn, của tinh thần duy
khoa học. Phạm Quỳnh có lẽ là một trong số những người đã lên tiếng mạnh mẽ nhất
về chủ đề này: “Khoa học hiện đại lại thường là phủ định minh triết, chỉ nhằm
thiết lập trên thế giới triều đại của máy móc, tàn phá mọi lý tưởng và mọi minh
triết, và mỗi bước con người chiếm lĩnh được khoa học đánh dấu một bước lùi
trong lĩnh vực các giá trị đạo đức và tinh thần” [9, tr.153]. Như vậy, đối với
những trí thức như Phạm Quỳnh, khoa học tuy mang lại nhiều lợi ích, nhưng nếu
chỉ có khoa học không thôi thì chưa đủ. Bởi, theo họ, khoa học mới chỉ có tác dụng
bồi bổ phần “trí”, thúc đẩy sự phát triển tri thức, trong khi không thể đảm nhiệm
việc bồi dưỡng phần “tâm”, duy trì sự ổn định của đời sống tinh thần, bồi đắp sự
trau dồi nhân cách. Sự khiếm khuyết ấy, theo họ, có thể được bù đắp bởi đạo đức
Nho giáo, thứ mà người Việt Nam dường như đã bỏ quên khi mải miết chạy theo
khoa học phương Tây. Mặc dù những người theo khuynh hướng điều hòa đều từng phê
phán Nho giáo ở những chừng mực nhất định, nhưng về cơ bản, họ khẳng định Nho
giáo, ở nguyên bản của nó, tức là Nho giáo Khổng - Mạnh, chính là thứ cần thiết
cho người Việt Nam ở thời điểm bấy giờ, bên cạnh khoa học phương Tây.
Nói chung, cách nhìn nhận
phân đôi hai nền văn hóa Đông, Tây mà ở đó, phương Đông, với Nho giáo, nghiêng
về phần “tâm”, đạo đức, còn phương Tây, với khoa học, nghiêng về phần “trí”,
duy lý là một cách nhìn có tính phổ biến trong giới trí thức Việt Nam trong khoảng
những năm 20, 30 của thế kỷ XX. Nó phân định một cách rạch ròi lĩnh vực nào cần
đến khoa học, còn lĩnh vực nào cần phải kiên trì giữ lấy nền đạo đức truyền thống
– đạo đức Nho giáo. Trần Trọng Kim khẳng định, cần phải lấy tâm học của Nho
giáo làm gốc, rồi dựa trên đó mà phát triển khoa học. Trong khi Phạm Quỳnh cũng
đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, việc học tập phương Tây cần phải giới hạn chỉ
trong lĩnh vực tri thức, khoa học mà thôi.
Nói tóm lại, tất cả những luận
điểm trên, từ “tùy thời chấp trung”, “cách vật trí tri” đến việc chỉ ra những
khiếm khuyết của khoa học, đều dẫn họ đến một phương án chung là điều hòa khoa
học phương Tây với đạo đức Nho giáo. Trong đó, đạo đức Nho giáo là nền tảng, bồi
dưỡng phần “tâm”, duy trì sự ổn định của đời sống tinh thần, còn khoa học
chuyên chú phần “trí”, gây lấy sự phát triển về mặt tri thức. Đó không chỉ là một
quan niệm, mà còn là lý tưởng của một thế hệ, tin vào sức sống của nền đạo đức
Nho giáo và cố gắng cứu vãn nền đạo đức đó. Những trí thức theo phái điều hòa,
vì vậy, cũng chính là những trí thức theo khuynh hướng bảo vệ và vãn hồi Nho
giáo.
2. Khuynh hướng phê phán
quan niệm điều hòa đạo đức Nho giáo với khoa học phương Tây
Nhóm trí thức theo khuynh hướng
điều hòa có lẽ là những người cuối cùng còn theo đuổi lý tưởng về giá trị trường
tồn của nền đạo đức Nho giáo trong quá khứ, hiện tại và tương lai của nền văn
hóa Việt Nam. Những hoạt động văn hóa của họ, do đó, cũng là những nỗ lực cuối
cùng trong việc vãn hồi Nho giáo, xác lập nền đạo đức Nho giáo như một nền tảng
cho sự phát triển của dân tộc. Trong những năm 1930, 1940, một lớp trí thức
khác xuất hiện trên diễn đàn học thuật, nói lên tiếng nói của sự đoạn tuyệt với
nền đạo đức Nho giáo. Họ không chỉ phê phán những tệ lậu của Nho giáo, không chỉ
phê phán Hán Nho, Tống Nho, mà còn trực tiếp phê phán chính Nho giáo Khổng - Mạnh,
thứ Nho giáo chí ít vẫn được tôn sùng trong những thập niên trước đó, và thông
qua đó, họ cũng đồng thời phê phán chính những người theo khuynh hướng điều
hòa. Một trong những nhân vật tiên phong và tiêu biểu nhất cho lớp trí thức này
là Phan Khôi. Ngoài ra, cũng có thể kể đến những trí thức của nhóm Tự lực văn đoàn
với Phong hóa, Ngày nay, nhóm Thanh Nghị, hay một số nhân vật theo khuynh hướng
mácxít.
Niềm tin của những nhân vật
theo khuynh hướng điều hòa vào sự phát triển trong sự trung dung (tùy thời chấp
trung), vào khả năng hòa giải giữa đạo đức Nho giáo và khoa học phương Tây, vào
sự bổ sung lẫn nhau giữa chúng, cho đến những năm 1930, 1940 đã bị lật đổ hoàn
toàn. Nếu như “trung dung” là cơ sở để Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim khẳng định lập
trường điều hòa của mình, thì phản trung dung chính là cơ sở để Phan Khôi, Tự lực
văn đoàn, Đào Duy Anh… kiên quyết khước từ đạo đức Nho giáo với tính cách một nền
tảng văn hóa trong thời đại mới. Phan Khôi đã nhiều lần phê phán gay gắt quan
niệm “trung dung” của Nho giáo. Ông cho rằng, quan niệm “trung dung” đã gây nên
những hậu quả rất lớn đối với sự phát triển của đất nước trong quá khứ: “Thật
thế, xã hội ta chịu lấy cái ảnh hưởng trung dung ấy mà hóa ra một cái xã hội ương
ương dở dở, trắng không ra trắng, đen không ra đen. Ở đời thì quý cái cách
không khôn không dại; xử sự thì chuộng cái lối không mềm không cứng (…). Té ra
Trung dung chẳng phải là gì cả, chỉ là cái thai đẻ ra khiếp nhược, và là cái ổ
chứa gian tà mà thôi” [5, tr.71]. Đào Duy Anh, trong Khổng giáo phê bình tiểu
luận, cũng thể hiện sự đồng tình với những phê phán của Phan Khôi đối với thuyết
“trung dung”. Nếu Trần Trọng Kim đứng trên quan điểm “tùy thời chấp trung” mà dựng
lên ý tưởng điều hòa của mình, thì Đào Duy Anh lại nhấn mạnh vào nghĩa “tùy thời”
mà chống lại khuynh hướng điều hòa: “Song dẫu phái dung hòa trung thành với
thuyết trung dung hơn phái cố chấp thủ cựu trên kia, mà họ lại quên rằng Khổng
Tử vốn rất trọng cái nghĩa “tùy thời”. Tục ngữ có câu: “Thời đại khác, kỷ cương
khác”. Ta không cần phải có tư tưởng cách mệnh chỉ lấy chữ “thời” của Khổng Tử
mà suy cũng có thể hiểu rằng ở thời đại phong kiến phải có kỷ cương Nho giáo,
thì hết thời đại phong kiến, kỷ cương Nho giáo tất không hợp nữa” [1, tr.147].
Hai chữ “trung dung” vốn có một thứ quyền uy to lớn, mang tính thiêng liêng đối
với những trí thức thuộc phái dung hòa, lại trở nên gàn dở trong mắt các trí thức
phản đối sự dung hòa. Nhưng cũng phải thấy rằng, sự phê phán “trung dung” của họ
thực chất là sự phê phán hướng vào nhóm trí thức theo khuynh hướng điều hòa nhiều
hơn là sự phê phán hướng trực tiếp vào quan niệm “trung dung” của Khổng Tử. Họ
muốn thông qua đả kích sự “trung dung” của nhóm điều hòa để xác lập một hướng đi
mới.
Về khả năng hòa giải giữa
Nho giáo và khoa học, nếu như nhóm trí thức điều hòa khẳng định đạo đức Nho
giáo không hề cản trở khoa học, và lấy đó làm cơ sở để khẳng định việc tiếp thu
khoa học hoàn toàn có thể song hành với việc giữ vững nền đạo đức Nho giáo, thì
đối với những người thuộc nhóm phê phán Nho giáo, đặc biệt là Phan Khôi, đạo đức
Nho giáo lại là thứ đối lập với khoa học, không thể tìm được tiếng nói chung với
khoa học. Theo Phan Khôi, thuyết “minh đức tân dân”, một nguyên tắc đạo đức nền
tảng của sách Đại học là một thuyết phản đối lại khoa học. Ông lập luận rằng,
công phu tu dưỡng của Nho giáo mặc dù rất có giá trị, nhưng việc Nho giáo đi từ
“minh đức” đến “tân dân”, từ tu thân đến tề gia, trị quốc, bình thiên hạ thì lại
là một quan điểm trái với khoa học, vì không gì có thể chứng nghiệm rằng làm tốt
cái trước thì có thể làm tốt cái sau [Xem: 5, tr.63]. Còn đối với “cách vật trí
tri”, nếu như các trí thức của phái dung hòa thường dựa vào đó để khẳng định
Nho giáo không trái với khoa học, thì Phan Khôi lại cho rằng, “cách vật trí
tri” tuy có thể mở ra khoa học, song trên thực tế, nó chỉ chuyên chú vào “độc
thư cùng lý”, vì vậy cũng xa rời tinh thần khoa học [Xem: 7, tr.57]. Nói cách
khác, theo Phan Khôi, tam cương lĩnh hay bát điều mục của sách Đại học, những nền
tảng căn bản của phương pháp tu dưỡng đạo đức Nho giáo, đều phản đối lại với
khoa học, nên không thể dung hợp được với khoa học, thậm chí còn cản trở khoa học.
Ở chiều ngược lại, nếu như
nhóm trí thức điều hòa cho rằng khoa học phương Tây đang ngày càng thiếu hụt những
giá trị đạo đức (“khoa học không có lương tâm” - theo cách nói của Phạm Quỳnh),
và do đó cần phải được bổ sung bởi đạo đức Nho giáo, thì Phan Khôi lại khẳng định
điều ngược lại. Trong bài viết “Khoa học không có tội” năm 1933, ông khẳng định
rằng, khoa học tuyệt đối không phải là nguồn gốc sinh ra sự suy thoái về mặt đạo
đức trong xã hội, trái lại, sự phát triển khoa học còn có thể cải thiện đạo đức
xã hội [Xem: 6, tr.148-149]. Với cách nhìn như vậy, tất nhiên, Phan Khôi không
cần đến đạo đức Nho giáo như một thứ bổ khuyết cho những thiếu hụt của khoa học.
Điểm này cũng liên quan đến
cách nhìn của Phan Khôi về văn hóa phương Đông và phương Tây. Nếu như nhóm trí
thức điều hòa dựa trên cách nhìn phân đôi hai nền văn hóa Đông Tây trong hai cực
“tâm” và “trí”, đạo đức và khoa học, cho rằng mỗi bên đều có giá trị to lớn
trong một lĩnh vực, và do đó, cần phải dung hòa với nhau, thì Phan Khôi lại cực
lực phản bác quan điểm đó. Theo ông, bản thân mỗi nền văn hóa là một chỉnh thể
không thể phân tách một cách cơ học để gán ghép lại với nhau. Ông cho rằng,
không thể phân biệt văn hóa phương Đông và phương Tây đơn giản trong hai từ “văn
minh vật chất” và “văn minh tinh thần”, mà mỗi nền văn hóa bao hàm cả hai mặt:
“Vả lại, cái nghĩa tinh thần và vật chất ở đây tuy là hai mà kỳ thực có một. Hễ
tinh thần đã đến một cái trình độ kia thì vật chất cũng đến một cái trình độ kia;
tinh thần còn ở một cái trình độ này thì vật chất cũng còn ở một cái trình độ
này. Theo lẽ ấy thì vật chất Đông phương sở dĩ kém Tây phương là tại tinh thần
cũng kém Tây phương; và Tây phương đã hơn Đông phương về vật chất thì cũng hơn
luôn về tinh thần” [6, tr.131]. Lối tư duy đó dẫn Phan Khôi đi đến kết luận: Thứ
nhất, việc kết hợp giữa đạo đức phương Đông (mà cốt lõi là Nho giáo) với khoa học
phương Tây là một điều bất khả, bởi chúng thuộc về hai chỉnh thể khác nhau; thứ
hai, (do đó) nếu đã muốn học tập, đi theo khoa học phương Tây, thì nhất thiết
phải loại bỏ đạo đức Nho giáo với tư cách nền tảng đạo đức của xã hội, để tiếp
nhận phương Tây một cách triệt để ngay cả ở địa hạt đạo đức. Nói cách khác,
khoa học phương Tây thì phải đi kèm với đạo đức phương Tây, chứ không thể có phương
án khác.
Khi đã đem đối lập nền đạo đức
Nho giáo với khoa học phương Tây, khẳng định sự bất khả dung hợp giữa chúng,
Phan Khôi đã đặt mình vào thế buộc phải lựa chọn. Và lựa chọn của ông cũng là lựa
chọn của phần đông trí thức Việt Nam thuộc thế hệ những năm 1930, 1940. Nếu Phạm
Quỳnh, Trần Trọng Kim hay kể cả Phan Bội Châu đã cố gắng thu mình vào trong bầu
không khí đạo đức Nho giáo với hy vọng từ đó có thể đưa ra giải pháp cho những
vấn đề của xã hội đương thời, thì người trí thức của những năm 1930, 1940 như
Phan Khôi, Đào Duy Anh, Tự lực văn đoàn v.v. lại nỗ lực vượt thoát ra ngoài bầu
không khí đó, phá vỡ thế quân bình mà nhóm điều hòa tạo ra để tiến lên phía trước.
Ở thế hệ trí thức này, khoa học vẫn là một giá trị, khoa học hóa vẫn là một mục
tiêu, như một sự tiếp nối tinh thần khoa học khởi từ những năm duy tân đầu thế
kỷ, nhưng song hành với nó, không còn là đạo đức Nho giáo nữa. Những chủ trương
văn hóa thời kỳ này ghi nhận một thực tế là nếu như khoa học vẫn chiếm một vị
trí trung tâm, thì Nho giáo đã lui hẳn về dĩ vãng. Trong 10 tôn chỉ của Tự lực
văn đoàn, điều thứ 9 là “đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương
Annam”, trong khi ngay trên đó, điều thứ 8 là “làm cho người ta biết rằng đạo Khổng
không hợp thời nữa” [10, tr.2]. Còn với những người mácxít, trong khẩu hiệu văn
hóa “Dân tộc hóa - Đại chúng hóa - Khoa học hóa” của “Đề cương về văn hóa Việt
Nam” năm 1943, trong nội dung dân tộc hóa đã không còn chỗ cho Nho giáo, mà
trái lại, là chủ trương: “Đánh tan những quan niệm sai lầm của triết học Âu, Á,
có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở ta: triết học Khổng, Mạnh, Đềcác (Descartes),
Bécsông (Bergson), Cǎng (Kant), Nítsơ (Niesche), v.v.” [3, tr.320]. Rõ ràng, với
người trí thức những năm 1930, 1940, đạo đức Nho giáo đã không còn song hành với
khoa học phương Tây.
Tất nhiên, cũng cần lưu ý rằng,
mặc dù cùng phê phán Nho giáo một cách hết sức quyết liệt, không ai trong số những
trí thức thuộc nhóm này phủ nhận hoàn toàn nền đạo đức Nho giáo. Đối với họ, nền
đạo đức Nho giáo vẫn có những giá trị nhất định, có thể khai thác, và do đó, có
thể tồn tại ngay cả trong thời đại mới. Chỉ có điều, trên con đường phát triển đất
nước, gây dựng một nền văn hóa mới cho dân tộc, họ đã dứt khoát phủ nhận vai
trò lịch sử của Nho giáo, phủ nhận đạo đức Nho giáo với tư cách một nền tảng
tinh thần cho xã hội.
Nhìn lại lịch sử của vấn đề
mối quan hệ giữa đạo đức Nho giáo và khoa học phương Tây ở Việt Nam trong nửa đầu
thế kỷ XX, cũng có thể thấy được phần nào khuynh hướng phát triển của tư tưởng
Việt Nam thời kỳ này. Trong dòng chảy đó, Nho giáo vẫn nắm giữ một vị trí nhất định
trong đời sống tinh thần của người trí thức Việt Nam, đặc biệt là người trí thức
những năm 20, 30 của thế kỷ XX. Nhưng đó có lẽ cũng là những nỗ lực cuối cùng của
người trí thức Việt Nam trong việc vãn hồi Nho giáo với tư cách nền tảng của nền
văn hóa dân tộc. Những diễn biến nhanh chóng của những năm 1930, 1940 đã đẩy
Nho giáo lui về dĩ vãng. Sự lấn át của khuynh hướng phê phán Nho giáo và phê
phán chủ trương điều hòa đã buộc Nho giáo phải lùi bước khỏi vũ đài lịch sử. Cũng
có thể nói rằng, cho đến thời điểm đó, trên diễn đàn học thuật của người Việt,
Nho giáo đã trở thành một thứ hào quang của quá khứ hơn là một thứ giá trị thuộc
về hiện tại và tương lai.
Tài liệu tham khảo
1.Đào
Duy Anh (1939), Khổng giáo phê bình tiểu luận, Quan Hải Tùng Thư, Huế.
2.Phan Bội
Châu (2001), Toàn tập, t.10, Nxb Thuận Hóa, Huế.
3.Đảng Cộng
sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4.Đông
Kinh Nghĩa Thục và văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục (2010), Chương Thâu biên soạn,
Nxb Hà Nội, Hà Nội.
5.Phan
Khôi (2005), Tác phẩm đăng báo 1929, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
6.Phan
Khôi (2013), Tác phẩm đăng báo 19331934, Nxb Tri thức, Hà Nội.
7.Phan
Khôi (2014), Tác phẩm đăng báo 1936, Nxb Tri thức, Hà Nội.
8.Trần
Trọng Kim (2008), Nho giáo, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
9.Phạm
Quỳnh (2007), Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, Nxb Tri
thức, Hà Nội.
10.Tự lực
văn đoàn, “Tự lực văn đoàn”, Phong Hóa, số 87, 1934.
Tác giả: Hoàng Minh Quân-Viện Triết học