Cho đến cuối thế kỷ XIX, khái niệm “văn minh” vẫn chưa xuất hiện trong giới trí thức Nho học Việt Nam
đương thời. Đến đầu thế kỷ XX, khái niệm này mới chính thức xuất hiện trong
“Văn minh tân học sách” của Đông Kinh nghĩa thục cũng như các tranh luận của
giới trí thức trên các tạp chí, như Đông Dương Tạp chí, Nam Phong... Tuy nhiên,
cuối thế kỷ XIX, các nhà nho Việt Nam đã ý thức được sự xâm nhập của một nền
văn minh mới khác hoàn toàn so với văn minh Nho giáo mà họ đã tiếp nhận trước
đó. Họ nhận thấy sự thâm nhập của bốn yếu tố gắn liền với các nước phương Tây,
như khoa học kỹ thuật, đạo Công giáo, lối sống phương Tây, chữ Quốc ngữ và ảnh
hưởng của nó đến đời sống xã hội đương thời. Có thể nói, trong quan niệm của
các nhà nho Việt Nam cuối thế kỷ XIX, văn minh phương Tây chỉ giới hạn ở bốn
yếu tố trên. Họ chưa nhìn ra được khía cạnh vô hình của nền văn minh, như tinh
thần độc lập, phê phán, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa cá nhân,... Hầu hết các nhà
nho vẫn đứng trên lập trường của Nho giáo để nhìn nhận các yếu tố thuộc về văn minh
phương Tây. Họ lấy Nho giáo làm trung tâm để đối chiếu với các yếu tố thuộc về
nền văn minh phương Tây. Trong khi đó, bên cạnh bốn yếu tố này, các trí thức
mang tinh thần tiến bộ đã nhận thấy vai trò của giáo dục kiểu phương Tây đối
với việc hiện đại hóa đất nước. Họ là những trí thức được đào tạo trong môi
trường Nho giáo nhưng đã nhận thức được sự tiến bộ của nền giáo dục phương Tây.
Thái độ của giới trí thức Nho học Việt Nam cuối thế kỷ
XIX được phân chia làm hai khuynh hướng: Thứ
nhất, phê phán, từ chối tiếp nhận nền văn minh phương Tây; thứ hai, thừa nhận sự tiến bộ của văn
minh phương Tây và đề nghị áp dụng để cải cách đất nước. Trước hết, chúng ta
hãy xem xét khuynh hướng thứ nhất là
thái độ phản đối của các nhà nho đối với văn minh phương Tây.
Thứ nhất, một
bộ phận của giới trí thức Nho học
Việt Nam cuối thế kỷ XIX cho rằng văn minh phương Tây đe dọa đến văn hóa truyền
thống Nho giáo.
Trước khi đạo Công giáo xâm nhập mạnh mẽ vào Việt
Nam, cuộc sống của người dân theo các tôn giáo tín ngưỡng khác nhau đều không
có sự khác biệt đáng kể về nếp sống, phong tục. Dù họ là người theo đạo Phật, đạo
Lão hay đạo Nho, thì vẫn cùng chia sẻ một hệ thống chuẩn mực đạo đức. Trong
quan niệm đạo đức của người Việt, hai giá trị đạo đức cơ bản là Hiếu và Trung.
Sự xuất hiện của số đông tín đồ Công giáo trên đất Việt đã ít nhiều tạo nên khoảng
cách khác biệt về văn hóa, phong tục, nghi lễ, nếp sống giữa người Công giáo và
người ngoài Công giáo. Giáo lý Công giáo đề cao Chúa trời là đấng tối cao, chủ
trương mọi người đều bình đẳng trước Chúa. Trong khi đó, ở xã hội truyền thống
Việt Nam, vua là người có quyền lực tối cao, là bậc “Thiên tử”. Thánh kinh của
Công giáo lại chỉ tôn thờ duy nhất một Đức Chúa trên hết thảy mọi sự: “Ngươi
không được có thần nào khác đối nghịch với ta. Ngươi không được tạc tượng vẽ
hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp… Ngươi không được phủ
phục trước những thứ đó mà phụng thờ; vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi là
một vị thần ghen tuông” [3, tr.30]. Theo đó, những người theo Công giáo trở nên
xa lạ trong sinh hoạt cộng đồng khi không thắp hương, thờ cúng ông bà tổ tiên,
mà lại cầu nguyện trước Đức Chúa từ phương Tây. Trong khi đó, với đại bộ phận
người Việt ngoài Công giáo, họ cảm thấy lối sống của mình bị “đe dọa” trước các
nghi thức, quy định mới lạ của người Công giáo.
Tự Đức nhận
thức được sự xâm nhập của văn hóa phương Tây có nguy cơ làm đảo lộn trật tự xã
hội do tổ tiên mình gây dựng nên. Trong quan
niệm của Tự Đức, vua là người đưa ra mẫu mực, chuẩn mực cho người dân noi theo,
đảm nhiệm vai trò giáo hóa dân; là gốc của phong hóa. Do đó, khi Công giáo vào
Việt Nam, các giáo sĩ với giáo lý Công giáo đã dần dần đảm nhiệm vai trò hướng
dẫn mọi mặt cuộc sống của người dân Công giáo. Với tư cách người đứng đầu vương triều, sự lan rộng
của Công giáo với sự hỗ trợ của các giáo sĩ phương Tây khiến Tự Đức cảm thấy
quyền lực tối thượng bị uy hiếp. Ảnh hưởng mạnh mẽ của Công giáo đã được
Taboulet khẳng định rõ ràng: “Nó đã làm đảo lộn một cách rõ rệt phong tục, tập
quán bản xứ, làm hư hại đến nền tảng của đạo chính là sự tôn sùng trời đất mà
nhà vua là vị linh mục tối cao, đạo thờ Thành hoàng và đạo thờ cúng tổ tiên; nó
đã làm rung chuyển và đã đe dọa làm tan rã cả nền móng của nhà nước, của gia
đình và của cả xã hội Việt Nam” [4, tr.94]. Chính vì thế, Tự Đức đã tiến hành
phê phán Công giáo ở một số nội dung giáo lý “phi chính thống” của nó.
Thứ
nhất, Tự Đức phê phán Công giáo đã gán ghép Thiên Chúa với Trời, cho rằng, dựa
hẳn vào Nho giáo để so sánh sự giống nhau giữa Trời và Thiên Chúa là vô lý. Ông nói: Giáo Gia-tô đã biết thuyết của họ là rất vô lý, họ còn gượng dẫn lời của sách Nho ta, để làm chứng. Họ bảo thiên chúa tức là
thượng đế,
thượng đế là
chúa tể của trời, tức là chúa sáng tạo ra trời đất vạn vật. Như thế là trời khác, đế khác, còn cần gì phải đem chữ trời mà ghép với chữ “chúa” nữa.
Sao họ không hiểu rằng lời lẽ của họ không ăn khớp gì cả [1, tr.43].
Thứ
hai, phê phán Công giáo không lễ tổ tiên, cha mẹ và xem đó là vô lễ, không có
gốc: “Thế mà, họ lại muốn
người ta không được lễ
tổ tiên, cha mẹ, thánh hiền, thần kỳ, bảo rằng thiên chúa là gốc của nhân vật,
thần thánh thì phải chuyên kính lễ thiên chúa. Như thế, họ lại càng sai lầm quá
lắm” [1, tr.46].
Thứ
ba, phê phán tín đồ của Công giáo tự tiện tế Trời, trong khi chỉ có Thiên tử
mới được tế Trời: “Huống
chi trời là bậc chí tôn, không phải thiên tử thì không được tế. Người thường khi có sự đau khổ vẫn thường kêu trời, cầu trời, đó cũng là kính trời đấy. Nhưng không dám vượt bậc mà tế trời.
Bọn kia là hạng người nào mà dám tế càn” [1, tr.47].
Hơn nữa, dựa vào lễ giáo Nho giáo, Tự Đức
còn phê phán Công giáo cùng với Đạo Lão, Thích Ca không nói đến hiếu thuận cha
mẹ, suy ra tức là không nói đến quan hệ vua tôi, do đó “đi đến chỗ xấu xa”.
Chẳng hạn, ông nói Lão Tử trốn đời, Thích Ca bỏ cha. Từ thái độ phê phán kịch
liệt trên đây, chính sách đối với Công giáo dưới thời Tự Đức ngày càng trở nên
gay gắt hơn, tạo nguyên cớ, điều kiện cho sự xâm lược của thực dân Pháp tại
Việt Nam.
Đông đảo sĩ phu Việt
Nam cuối thế kỷ XIX cũng cùng chung thái độ đối với Công giáo như vua Tự Đức.
Đối với các nhà nho xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, Công giáo được xem là “tả
đạo” vì nó đi ngược lại truyền thống dân tộc, truyền thống Nho giáo: “Sống làm
chi theo quân tả đạo, quang vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn” [5,
tr.54]. Nguyễn Đình Chiểu lên tiếng phê phán Công giáo vì đạo này không thờ
cúng ông bà tổ tiên vốn là truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam: “Dù đui
mà giữ đạo nhà/Còn hơn có mắt ông cha không thờ” [5, tr.76].
Đặc biệt, các nhà nho nhận thấy sự xâm
nhập mạnh mẽ của văn minh phương Tây vào xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, khiến cho
lối sống của xã hội ngày càng biến chuyển theo hướng phương Tây. Sự khủng hoảng
của văn hóa Nho giáo trước văn minh phương Tây được biểu hiện tập trung ở sự
suy tàn của giáo dục, khoa cử Nho học. Nhà nho Nguyễn Khuyến đã phải lên tiếng
than thở cho sự tàn lụi của đạo học: “Cái học nhà nho đã hỏng rồi / Mười người
đi học, chín người thôi / Cô hàng bán sách lim dim ngủ / Thầy khóa tư lương
nhấp nhổm ngồi” (Các học nhà nho) [13, tr.120].
Nguyễn Khuyến nhận thức được thực tại tàn
khốc lúc bấy giờ, nước mất nhà tan, phong tục cũ bị mai một, tri thức Nho giáo
không còn hữu ích cho nhân dân trong công cuộc chống giặc ngoại xâm.
Nhà nho Tú Xương cũng
ý thức được sự tuột dốc của nền khoa cử Nho học trước sức mạnh của văn minh
phương Tây. Ông nhận thấy việc học hành theo lối chữ Nho giờ đã không còn hưng
thịnh như ngày xưa: “Đạo học ngày nay đã khác rồi/ Mười người đi học chín người
thôi” (Than đạo học) [8, tr.80].
Thậm chí, địa vị của
Nho học đã trở nên sụt giảm trầm trọng, việc học chữ nho đã không còn ưu thế,
tác dụng trong thời buổi bấy giờ. Có thể nói, giáo dục Nho học đã đi đến giai
đoạn suy tàn, không còn là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Các nhà nho xuất
thân từ nền giáo dục ấy cũng không còn nắm giữ vai trò chủ đạo trong xã hội nữa
mà trở nên thất thế trước giáo dục Tây học: “Nào có ra gì cái chữ nho/ Ông nghè
ông cống cũng nằm co/ Chi bằng đi học làm ông phán/ Tối rượu sâm banh sáng sữa
bò” [5, tr.143].
Cuối thế kỷ XIX, thực
dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách khai thác thuộc địa ở Việt Nam, kéo theo
sự biến chuyển trong cấu trúc kinh tế, xã hội, dẫn đến vị trí, vai trò của nhà
nho trong đời sống xã hội bị sụt giảm trầm trọng. Tây học phát triển khiến cho
nhiều nhà nho trở nên lạc lõng, không còn “đất dụng võ”. Những ông nghè, ông
cống là sản phẩm của giáo dục khoa cử Nho học nay đã không còn chỗ đứng trong
xã hội, buộc phải “nằm co” trước thời cuộc. Một bộ phận nhà nho khác thì theo
đuổi Tây học để mưu tìm danh lợi, trở thành ông phán phục vụ cho thực dân Pháp.
Sự đối chọi giữa nền văn hóa cũ và mới, giữa Nho học và Tây học được thể hiện
đậm nét trong việc thay đổi chính sách thi cử: “Nghe nói khoa này sắp đổi thi/
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi/ Dẫu không bia đá còn bia miệng/ Vứt bút lông đi, giắt
bút chì” (Đổi thi) [13, tr.129].
Tuy nhiên, phần lớn các nhà nho không chấp
nhận văn hóa phương Tây, đặc biệt là việc học vần Tây. Họ cho rằng việc tiếp
nhận văn minh phương Tây là làm trái với luân lý truyền thống của tổ tiên: “Mợ
bảo vần Tây chẳng khó gì/ Cho tiền đi học để chờ thi/ Thôi thôi lạy mợ “Xanh
căng” lạy/ Mả tổ tôi không tán bút chì [2, tr.329].
Thứ hai, một số bộ phận trí
thức Nho học cuối thế kỷ XIX quan niệm văn minh phương Tây gắn liền với chủ nghĩa
thực dân.
Một bộ phận trí thức Nho học có thái độ cực
đoan đối với thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây, đánh đồng chủ nghĩa thực
dân Pháp xâm lược với những thành tựu khoa học kỹ thuật tiến bộ của phương Tây: “Si ngốc những mong Tây giúp khéo. Ai ngờ
kẻ địch chính là Tây” [5, tr.284]. Quan
niệm này xuất phát từ sự du nhập của văn minh phương Tây gắn liền với sự xâm
lược của thực dân Pháp vào nửa cuối thế kỷ XIX. Điều này được thể hiện đậm nét
trong quan niệm của nhà nho Nguyễn Xuân Ôn khi phản đối việc học tập văn minh
phương Tây: “Phương chi giặc Pháp như con ong, con rết có nọc độc, con hùm, con
sói không thân ai, làm sao mà tin được. Nay mình nuôi bè lũ bọn khác giáo với
mình để chúng tha hồ quấy rối, học tập văn tự man rợ để thay đổi áo mũ của
mình, điều đó là những việc quái lạ, vô ích mà còn nên làm hay sao” [7,
tr.280].
Đặc biệt, phong trào đấu tranh của văn
thân đối với giáo sĩ và giáo dân lên đến cao trào ở phong trào Bình Tây Sát Tả
diễn ra vào tháng 2 năm 1874 do hai nhà nho Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo.
Việc triều đình Huế ký kết Hiệp ước Giáp Tuất 1874 đã khiến giới sĩ phu vô cùng
phẫn nộ. Chính vì thế, ông Tú Tấn cùng Tú Mai, Ðội Lựu (Trần Quang Cán), Trần
Quang Hoán, Trương Quan Phủ, Tú Khanh (Nguyễn Huy Ðiển) đã lập tức kêu gọi dân
chúng, thảo ra hịch “Bình Tây Sát Tả” và “Bài Ca Kêu Gọi Khởi Nghĩa”. Phong
trào Bình Tây Sát Tả cho thấy sĩ phu Nho học đã đánh đồng chủ nghĩa thực dân
với Công giáo và giáo dân. Điều này thể hiện thái độ phủ nhận, từ chối tiếp
nhận một tư tưởng khác gắn liền với phương Tây của giới sĩ phu Nho học nửa cuối
thế kỷ XIX. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới chia rẽ tinh
thần đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược đang
diễn ra lúc bấy giờ.
Thái độ phê phán văn minh
phương Tây của một bộ phận trí thức Nho học Việt Nam cuối thế kỷ XIX còn thể
hiện đậm nét ở việc phản đối chính sách đồng hóa bằng chữ quốc ngữ của thực dân
Pháp. Trong thời gian thiết lập chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, thực dân Pháp đã áp
dụng nhiều biện pháp, như bắt buộc dùng chữ quốc ngữ trong trường học, bộ máy
hành chính, phát hành tờ báo chữ quốc ngữ (Gia Định báo) để phổ biến chữ quốc
ngữ. Mục đích của thực dân Pháp trong việc truyền bá chữ quốc ngữ là cô lập
những người chỉ biết chữ quốc ngữ với văn hóa dân tộc vốn gắn liền với chữ Nho.
Có thể nói, chữ Nho vốn là phương tiện truyền bá văn hóa Nho giáo truyền thống
gắn liền với lịch sử lâu đời của dân tộc, đồng thời nhà nho là những người đại
diện cho nền văn hóa truyền thống. Việc thay thế chữ nho bằng chữ quốc ngữ
khiến cho địa vị của chữ nho, nhà nho trong đời sống văn hóa làng xã trở nên
sụt giảm. Không những thế, chữ quốc ngữ bị thực dân Pháp biến thành công cụ hữu
hiệu để khiến người dân trở nên vong bản, mất gốc, xa lạ với nền văn hóa dân tộc
dựa trên nền tảng Nho giáo. Không chỉ vậy, việc chỉ sử dụng chữ quốc ngữ cũng
cách ly đội ngũ giáo dân với trí thức Nho học Việt Nam đương thời. Điều này
được Lanessan ghi lại như sau: “Tôi còn giữ trong tay một thư của Giám mục
Puginer trong đó Ngài trình bày mục đích việc phiên âm bằng chữ La tinh một
cách thật rõ rệt. Ngài nói khi thay thế chữ nho bằng chữ quốc ngữ, Hội thừa sai
nhằm mục đích cô lập các giáo hữu. Những người này sẽ không còn có thể đọc được
những tác phẩm dễ đọc nhất của Trung Hoa và sẽ không thể thư từ gì được với bất
cứ một sĩ phu Tàu hay Ta nào. Được giáo dục như thế, các Thầy người bản xứ sẽ
chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng quốc ngữ cho họ
dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần túy tôn giáo” [Dẫn theo: 12,
tr.18-19].
Chúng ta biết rằng,
vào nửa cuối thế kỷ XIX, phần lớn các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp
đều bắt nguồn từ tầng lớp nho sĩ. Chính vì thế, thực dân Pháp muốn thay thế chữ
nho bằng chữ quốc ngữ nhằm mục đích làm suy giảm địa vị, vai trò của nho sĩ
trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội. Một khi ở xứ thuộc địa Nam Kỳ, chữ
nho không được sử dụng trong văn thư hành chính, trong nhà trường và phương
tiện truyền thông thì tri thức Nho giáo không còn hữu dụng nữa. Và, khi chữ nho
không còn vai trò trong xã hội thì uy tín của những nhà nho xuất thân từ nền
giáo dục Nho học cũng bị suy giảm theo. Đồng thời, nếu người dân đương thời
không đọc hiểu được văn bản ngày xưa của cha ông mình, thì việc họ mất gốc,
phục tùng nền văn hóa mới sẽ là không thể tránh khỏi. Thông qua bức thư Giám
đốc Nội vụ súy phủ Nam gửi cho Quan bố Sài Gòn ngày 15-1-1886, chúng ta có thể
thấy được chủ đích của thực dân Pháp khi muốn thay thế chữ nho bằng chữ quốc
ngữ đó là truyền bá nền văn minh phương Tây vào đời sống cư dân An Nam: “Ngay
từ những ngày đầu, người ta đã nhìn nhận chữ nho là một hàng rào thêm nữa ngăn
cách chúng ta với người bản xứ; việc dạy bằng chữ nho hoàn toàn vượt khỏi tầm
kiểm soát của chúng ta; thứ chữ đó thật rất khó truyền đạt được cho dân chúng
những khái niệm mà họ cần biết trong hoàn cảnh chính trị và thương mại mới của
họ. Do đó, chúng ta bó buộc phải theo những truyền thống của nền học chánh của
chúng ta, đó là nền học duy nhất làm cho chúng ta gần người An Nam ở thuộc địa
bằng cách gieo vào đầu họ những nguyên tắc của nền văn minh Âu châu và bằng
cách cô lập họ khỏi ảnh hưởng thù địch của những nước láng giềng” [Dẫn theo: 12, tr.86].
Có thể thấy, trí thức
Nho học Việt Nam lúc bấy giờ phản đối chữ quốc ngữ với ý nghĩa là công cụ để
triệt tiêu tinh thần dân tộc, đạo lý gắn liền với chữ nho. Với thân phận là
những người dân bị mất nước ngay trên chính mảnh đất của tổ tiên, trí thức Nho
học Việt Nam không thể không chống đối việc Pháp cưỡng bức sử dụng chữ quốc
ngữ. Mặc dù xét trong bối cảnh hiện tại, việc các nhà nho phản đối chữ quốc ngữ
có vẻ mang tính cực đoan, tuy nhiên, nếu đặt trong hoàn cảnh Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XIX, thì hành động đó hoàn toàn hợp lý. Bởi lẽ, chữ quốc ngữ lúc này đã
bị thực dân Pháp lợi dụng trở thành công cụ để thực hiện chính sách đồng hóa,
triệt tiêu văn hóa Nho giáo, truyền bá văn minh thực dân. Trong bối cảnh đó,
việc chấp thuận chữ quốc ngữ đối với những người xuất thân từ nền giáo dục Nho
học chính là sự khuất phục trước thế lực xâm lược.
Khuynh hướng thứ hai trong
thái độ của trí thức Nho học Việt Nam đối với văn minh phương Tây là chủ động
tiếp cận, đề xuất áp dụng văn minh phương Tây để cải cách đất nước. Một bộ phận trí thức Nho học tiến bộ
đã coi việc tiếp nhận văn minh phương Tây là con đường cần thiết để hiện đại
hóa đất nước.
Cùng chung quan điểm trên đây là nhà nho Phạm Phú Thứ. Ông đã tổ chức khắc
in 5 bộ sách “tân học” giới thiệu về nền văn minh phương Tây gồm: Bác vật tân
biên (nói về khoa học), Khai môi yếu pháp (nói về khai mỏ), Hàng hải kim châm
(nói về cách đi biển), Tùng chính di quy (nói về kinh nghiệm đi làm quan), Vạn
quốc công pháp (giao thiệp quốc tế). Không những vậy, ông còn thành lập Nhà
thủy học với mục đích giảng dạy các kỹ thuật hàng hải, nghiên cứu bờ biển, cửa
sông của Việt Nam và các nước lân cận; nghiên cứu các biện pháp phòng bị ở bờ
biển, cửa sông; sửa chữa tàu thuyền; vẽ bản đồ bờ biển và sông ngòi.
Đặc biệt, Phạm Phú Thứ
chủ trương học tập cái hay cái tốt của phương Tây, trên cơ sở đó mới có thể chế
phục được các nước này: “Trộm nghĩ, như nước Đại Thanh, nước Nam ta, có đủ điển
lễ, văn vật tốt đẹp, đủ làm căn bản trị nước, ví bằng dùng thêm những cái tài
giỏi của họ, bớt cái phồn tạp, tới chỗ giản ước, cứ theo chỗ thiết thực mà lý
hội, thì người Anh, người Pháp, tuy vẫn xưng hùng một phương cũng chưa chắc đã
dám lên mặt bậc thầy... Tưởng nên học lấy cái hay của họ rồi mới có thể liệu
đường chuẩn bị thu lấy cái thành hiệu “uy phục người phương xa vậy” [Dẫn theo: 14, tr.331].
Tiếp đến, Nguyễn Lộ Trạch cho rằng, nước ta
trước nay vốn bị khép kín, không giao thiệp với các nước khác, nhưng trong thời
đại mới thì không thể giữ tình trạng đó được. Trong tác phẩm Thời vụ sách hạ, ông viết: “...Người
nước ta lâu nay bị nhốt kín bên trong biên giới, không thuộc đường sang Tây dương,
nếu muốn giao thiệp xa thì không thể tự mình tới được. Ví bằng có được người
trung nghĩa, gửi sang Hương Cảng ngầm giao thiệp với người Anh, người Phổ rồi
theo tàu họ đến thủ đô nước họ, dò xét nông sâu, hư thực, rồi sau mới dùng đến
sứ mệnh của triều đình sang” [10, tr.125-126]. Đặc biệt, ông kịch liệt phê phán
thái độ tiêu cực, bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn cũng như sĩ phu đối với
thành tựu, tiến bộ của nền văn minh phương Tây: “Đối với việc học kỹ thuật,
triều đình lại cho là loại “nghề thợ” mà coi khinh, khiến các bậc cao minh hổ
thẹn, không ai chịu học” [10, tr.121].
Đồng thời, ông cũng khẳng định việc học
tập khoa học kỹ thuật của các nước phương Tây là con đường đúng đắn giúp đất
nước có thể chống lại sự xâm lược của Pháp. Ông nói: “Nếu ta có thể học được
cái sở trường của họ, suy nghĩ cho thế và lực ngang với họ, thì nay dẫu chưa
thể chiến nhưng không phải không có cơ hội có thể chiến được” [10, tr.97].
Tư tưởng của Nguyễn
Lộ Trạch đã vượt ra khỏi nhãn quan Nho giáo, khiến ông nhận thức được ưu thế
của nền văn minh phương Tây cũng như các lợi thế mà nó mang lại. Không chỉ vậy,
ông còn đề xuất cử người sang các nước phương Tây học tập: “Chọn con em các
quan đại thần, cùng các cử nhân, tú tài, đã làm quan hoặc chưa ra làm quan, sao
cho được những người anh tài tuấn kiệt, rồi dùng lễ nhiều lương hậu, phái ra
nước ngoài học tập, định kỳ hạn đi về cho nghiêm minh, khen thưởng cho đầy đủ
thì người ta sẽ vui lòng vì được khuyến khích, chỉ mấy năm mà thành tài” [10,
tr.122].
Một trong những nhà nho Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XIX có những quan điểm tiến bộ về văn minh phương Tây phải kể đến là
Đặng Huy Trứ. Điểm nổi bật trong tư tưởng của ông là chủ động học tập kinh
nghiệm cải cách của các nước trên thế giới nhằm tìm ra giải pháp thích hợp cho
đất nước Việt Nam đương thời. Ông viết: “Tất cả các cách để tự cường, tự trị
của các nước đều có đăng rải rác trên tờ “Thiên Tân kinh báo” và trên “Tuần san
Quảng Châu” bằng tiếng Trung Quốc và tiếng nước ngoài. Ghi chép lại, thu thập
cho hết, không bỏ sót điều gì, rồi đệ trình lên nhà vua và báo cáo với các vị
đại thần. Cái gì dùng được thì dùng; một hạt bụi, một giọt nước dù nhỏ trong
muôn một cũng có thể góp vào núi cao, biển cả” [6, tr.438].
Trên cơ sở nghiên cứu con đường canh tân
của các nước Trung Quốc, Ba Tư, Cao Ly (Triều Tiên) và Nhật Bản, ông đã đúc rút
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam lúc bấy giờ. Trong tác phẩm Bệnh trung đắc Dã Trì chủ nhân tứ giáo, thi
dĩ chí chi (Trong khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo, làm thơ ghi lại),
ông lần lượt phân tích chủ trương tự cường của các nước trên là mua máy móc và
học tập từ các nước phương Tây; áp dụng nội dung giáo dục của các nước phương
Tây; tuyển chọn người sang các nước phương Tây học tập... Từ đó, ông chủ trương
muốn tự cường, tự trị thì phải dựa vào sức mạnh nội lực của bản thân kết hợp
với thành tựu văn minh của các nước tiến bộ, không thể trông chờ vào sự giúp đờ
từ thế lực bên ngoài như một số nho sĩ quan niệm. Ông viết: “Bọn quỷ trắng đâu
chịu nghe những lời thiện, mà ta cũng không thể để mất nhân dân và đất đai
được. Trong triều không thiếu những vị quan to, áo xanh, áo tía thực là một sự
giúp giập lớn, ấy là chưa kể văn thân của ba tỉnh thì chưa thể biết được. Trông
cậy nước Anh ư, không thể được, vì như vậy chẳng khác gì rước chó sói vào cửa
sau. Trong núi đã có hổ, biết cử ai ra đánh hổ đây” [6,
tr.390].
Có thể thấy, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ
đều nhận thức được những giá trị mà văn minh phương Tây mang lại cho sự phát
triển đất nước. Họ đều đưa ra các đề xuất cải cách nhằm thuyết phục triều đình
nhà Nguyễn áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây để đưa đất
nước thoát khỏi lạc hậu. Như vậy, mặc dù vào nửa cuối thế kỷ XIX, một số trí
thức Nho học, như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch, đã có những nhận thức tiến bộ
đối với văn minh phương Tây nhưng phải sang thế kỷ XX, giới nho sĩ Việt Nam mới
có sự bừng tỉnh thực sự. Các nhà nho với phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa
thục, phong trào Duy tân... đã phê phán hạn chế của Nho học và chủ trương cải
cách, duy tân nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, ngày
càng hội nhập với nền văn minh nhân loại.
Có thể thấy, cho đến
nửa cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản chủ nghĩa trong đó có Pháp đã phát triển
mạnh mẽ với nhiều thành tựu vượt bậc trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Các
nước phương Tây với sức mạnh trí tuệ đã sáng tạo nên các động cơ hơi nước, phát
minh ra cột thu lôi chế ngự được sấm sét, tạo nên các tàu thuyền lớn băng qua
các đại dương... Những thành tựu của nền văn minh phương Tây đã chứng tỏ được
sức mạnh chinh phục tự nhiên của con người và khiến cho quyền uy của giới thần
linh trở nên nhỏ bé hơn. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nho Việt Nam đương thời
lại cho rằng văn minh phương Tây chính là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về
lối sống, các giá trị đạo đức xã hội. Đồng thời, họ quan niệm văn minh phương
Tây gắn liền với chủ nghĩa thực dân xâm lược, vì thế việc tiếp nhận sản phẩm
văn minh được sản sinh từ phía kẻ thù xâm lược đã được các nhà nho đánh đồng
với hành vi bán nước, phản quốc. Do đó, họ kiên quyết phản đối văn minh phương
Tây, cho rằng công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn liền với xóa
bỏ các yếu tố của văn minh phương Tây. Quan điểm này của họ đã thể hiện cái
nhìn bảo thủ, lạc hậu trước sự biến đổi mạnh mẽ của thời đại bấy giờ. Các nhà nho
thuộc phái bảo thủ này đã không nhận thức được thực tiễn lịch sử Việt Nam lúc
bấy giờ cũng như xu thế phát triển chung của thế giới.
Thực tế là xã hội
Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đang rơi vào giai đoạn khủng hoảng, lạc hậu so với
các nước tư bản phương Tây lúc bấy giờ. Trong khi các nước tư bản phương Tây đã
phát triển hệ thống máy móc kỹ thuật, đóng các tàu biển lớn để vượt đại dương
sang xâm lược các nước phương Đông, thì các nhà nho Việt Nam lại ung dung, tự
hào với nền văn minh Khổng giáo, xem thường văn minh phương Tây và gọi họ là
“man di”. Họ tự hào với đạo đức của quân tử, thánh vương mà không nhận thấy nội
tình của đất nước ngày càng suy kiệt, đời sống nhân dân trở nên kiệt quệ. Lẽ ra
các nhà nho Việt Nam - giới tinh hoa của xã hội - là những người tiếp xúc với
nền văn minh phương Tây phải chỉ ra những điểm tiến bộ của văn minh phương Tây.
Tuy nhiên, phần lớn nho sĩ Việt Nam lại tự tôn, xem văn minh Nho giáo là chuẩn
mực, những gì nằm ngoài tri thức Nho giáo đều không đáng tin, vô dụng. Hạn chế của
tầng lớp trí thức Nho học Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX là chưa có công
trình nghiên cứu nào về chủ nghĩa tư bản và nền văn minh phương Tây cũng như
chưa đưa ra đối sách cụ thể để đưa đất nước thoát khỏi hiện trạng lạc hậu lúc
bấy giờ. Có thể khẳng định rằng, sự thất bại của dân tộc Việt Nam giai đoạn nửa
cuối thế kỷ XIX trước sự xâm lược của thực dân Pháp không thể không liên quan
đến thái độ của đội ngũ trí thức Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đối với
nền văn minh phương Tây.
Ngày nay, nhìn lại
thái độ của trí thức Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đối với nền văn minh
phương Tây, chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm lịch sử quý
giá. Đất nước Việt Nam chỉ có thể trở nên giàu mạnh khi và chỉ khi chúng ta
thấy được sự yếu kém, hạn chế của chính mình và sẵn sàng tiếp thu các tri thức
tiến bộ của nhân loại. Xã hội Việt Nam hiện nay đang đứng trước những thách
thức và cơ hội từ làn sóng toàn cầu hóa và sự phát triển của cách mạng công
nghiệp 4.0. Vấn đề đặt ra cho đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay là phải có
tinh thần cởi mở, nhạy bén trong việc tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại. Họ
cần tránh thái độ bảo thủ, cực đoan như các nhà nho Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XIX; nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại cũng như nguyện vọng, tâm tư
của nhân dân để góp phần xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp với đất
nước trong thời đại mới.
Tài liệu tham khảo
[1] Tự
Đức, Tự Đức ngự chế văn, Tài liệu chép
tay của Viện Triết học.
[2] Bảo
Định Giang (1990), Những ngôi sao sáng
trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ
Chí Minh.
[3] Đỗ Lan Hiền (2002), Sự thống nhất giữa kính Chúa và yêu nước trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam thời cận, hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[4] Nguyễn
Văn Kiệm (2003), Góp phần tìm hiểu một số
vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[5]
Nhiều tác giả (1976), Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX: 1858 -
1900, Nxb Văn học, Hà Nội.
[6]
Nhóm Trà Lĩnh (1990), Đặng Huy Trứ, con người và tác phẩm, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.
[7] Nguyễn
Xuân Ôn (1977), Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn,
Nxb Văn học, Hà Nội.
[8] Nguyễn Hữu Sơn , Đinh Minh Hằng, Vũ Văn Sỹ (2001), Trần Tế
Xương - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục.
[9] Phạm Văn Sơn
(1965), Việt
Sử Tân Biên, Quyển 5,
Tập thượng, Sài Gòn.
[10] Mai Cao Thương, Đoàn Lê Giang (1995),
Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
[11] Phạm
Phú Thứ, Giá viên văn tuyển, (Đỗ Ngọc
Toại dịch, Tài liệu viết tay của Viện Triết học).
[12] Nguyễn
Văn Trung (1975), Chữ quốc ngữ thời kỳ
đầu Pháp thuộc, nhà in Nam Sơn xuất bản.
[13] Nguyễn Tường
Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sung (1953), Việt
văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Tài liệu giáo khoa, Hà Nội.
[14] Lê Sỹ Thắng
(1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam,
t.2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Tác giả: Phan Thị Thu Hằng