Tóm tắt: Nguyễn
Trường Tộ (1830 - 1871) là nhà tư tưởng lớn, nhà canh tân yêu nước của Việt Nam
giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Ông đã từng sống và học tập ở một số nước phương
Tây. Tại đây, ông đã có điều kiện mở rộng kiến thức và văn hóa, trên cơ sở đó
ông đã đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị. Bài viết tập trung phân tích tư tưởng
cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ thể hiện qua việc phê phán nền giáo dục
hư học và chủ trương xây dựng nền giáo dục thực học của ông. Tư tưởng cải cách
giáo dục của Nguyễn Trường Tộ đặc biệt đề cao giáo dục thực học với tư cách
biện pháp mang tính cách mạng toàn diện, nhằm thay đổi nền giáo dục lạc hậu của
Việt Nam lúc bấy giờ, tạo nền tảng chấn hưng đất nước trên nhiều phương diện,
như kinh tế, chính trị, xã hội...
Từ khóa: Nguyễn Trường Tộ, văn minh phương Tây, tư tưởng cải
cách/canh tân, cải cách giáo dục, thực học.
Nguyễn Trường
Tộ (1830 - 1871) là nhà tư tưởng lớn, nhà canh tân yêu nước của Việt Nam giai
đoạn cuối thế kỷ XIX. Ông được đánh giá là “một nhân cách yêu nước bằng trí tuệ
lỗi lạc của mình” [8, tr.246]. Không những thế, ông còn là người rất thông
minh; thông thạo nhiều ngoại ngữ, như tiếng Trung, tiếng Pháp; có nhiều kiến
thức về lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, thiên văn, địa lý, cơ khí,... và am hiểu
về chính trị, quân sự, ngoại giao,... Tài năng, trí tuệ cũng như những đóng góp
của Nguyễn Trường Tộ đều nhằm mục đích duy nhất là giành độc lập dân tộc và
chấn hưng đất nước.
Thế kỷ XIX,
Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đời sống chính trị, kinh tế, xã
hội trì trệ và lạc hậu. Trước bối cảnh đó, các nhà nho yêu nước, như Đặng Huy
Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Nguyễn Lộ Trạch,… chủ trương tiến hành cải
cách nhằm góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên. Về cơ bản, họ chủ trương
nghị hòa với Pháp và mong muốn triều đình mở rộng ngoại giao với các nước
phương Tây, phát triển công thương nghiệp để làm giàu đất nước. Tuy nhiên,
Nguyễn Trường Tộ có tầm nhìn toàn diện hơn, tư tưởng cải cách của ông đã bao
quát một cách hệ thống nhiều lĩnh vực khác nhau, cập nhật được cái mới của văn
minh phương Tây và trở thành xu thế mới ở phương Đông “về kinh tế, giáo dục,
văn hóa, khoa học, xã hội, chính trị, Nguyễn Trường Tộ đã nêu lên những sai lầm
của các chính sách của nhà Nguyễn và vạch ra những biện pháp duy tân về mọi
mặt” [7, tr.133].
Trong các tư
tưởng cải cách của ông, đáng chú ý là tư tưởng cải cách giáo dục. Ở đó, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc
những tư tưởng tiến bộ của nền giáo dục phương Tây, ông tiến hành phê phán nền
giáo dục hư học và chủ trương xây dựng nền giáo dục thực học, nhằm mục đích
canh tân đất nước cũng như hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà.
Phê phán nền
giáo dục hư học
Nguyễn Trường
Tộ xuất thân trong gia đình Nho học, bản thân được học tập, rèn luyện qua các
trường lớp của Nho giáo và có cơ hội đi nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á, như
Hồng Kong, Singapore, Malaysia và tới cả Tây Âu. Ông được mọi người nhìn nhận
với tư cách một nhà tân học khi mang những kiến thức mới mẻ, tiến bộ của phương
Tây đối lập với kiến thức phổ cập của phương Đông đương thời.
Thế kỷ XIX, nền
giáo dục Việt Nam vẫn còn lạc hậu cả về phương diện nội dung lẫn phương pháp
học. Phương pháp học căn bản là thuộc lòng, không có tranh luận, không có sự
phê phán cái cũ, cái lạc hậu cũng như không có những lập luận mới, sáng tạo cái
mới, kiến thức dạy và học quá xa rời thực tế cuộc sống: “Nhìn lại vào sự học
của ta ngày nay, những điều thầy dạy, những cái học trò học, đều toàn những
chuyện xa xưa. Tuy trong sách có đôi chỗ nói đến những việc thực tế nhưng chẳng
truyền dạy được, vì người xưa đã khuất...” [2, tr.248]. Chẳng hạn, ở cấp tiểu
học, các em học sinh vẫn chỉ được học Nhất thiên tự (một nghìn chữ), Tam thiên
tự (ba nghìn chữ), Sơ học vấn tân nghĩa, Ấu học ngũ ngôn thi (thơ năm tiếng)
hay Thiên tự văn, Hiếu kinh, Minh Tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Tam tử kinh
và Tứ thư, Ngũ kinh,... đều là kinh điển của Nho giáo [Xem: 1, tr.17]. Nội dung
giáo dục hầu như chưa vượt ra ngoài phạm vi ảnh hưởng của Nho giáo, và không
quan tâm đến thế giới phương Tây cũng như các thành tựu khoa học kỹ thuật của phương
Tây.
Với Nguyễn
Trường Tộ, giáo dục được xem là nền tảng cơ bản của chiến lược xây dựng đất
nước. Theo ông, nguyên nhân của những hạn chế, phù phiếm, lạc hậu, hư học của
nền giáo dục phương Đông nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng lúc đó là: “Các
nước phương Đông tuy là ông tổ của trăm nghề, nhưng bản tính lại mải mê sự an
nhàn vui thú không thích đổi mới. Vả lại ngày xưa đã từng xưng hùng xưng bá
trong thiên hạ, tự mãn tự túc, nghĩ rằng thiên hạ không ai hơn mình. Cho nên
chuyên chọn hư văn phù phiếm, học lối xu nịnh bợ để được cái phú quý mỏng manh
trước mắt” [2, tr.137]. Tư tưởng “tự mãn tự túc” này gây nên sự bế tắc, lạc hậu
của dân tộc Việt Nam. Nguyên nhân của nó là quan niệm “nội hạ ngoại di” có ảnh
hưởng sâu sắc từ văn hóa Trung Hoa, tức xem nước mình, người nước mình là văn
minh hơn nước khác, người nước khác. Do đó, trong tâm thức của đông đảo giới
trí thức, nho sĩ cũng như người dân Việt Nam không cần phải học hỏi, tham khảo
học thuật phương Tây, kiên quyết giữ gìn lối học cũ.
Ngoài ra, lối
hưởng thụ an nhàn đã trở thành hiện tượng tương đối phổ biến trong một bộ phận
người dân Việt Nam lúc bấy giờ. Nguyễn Trường Tộ viết: “Nước ta hiện nay trong
dân gian có lắm người không cày ruộng mà muốn có cơm ăn, không dệt vải mà muốn
có áo mặc, không có tài mà muốn có địa vị, không học mà muốn làm quan, cho đến
những bọn lòng dạ hẹp hòi, tính khí kiêu căng, không lo bổn phận, chẳng rõ luận
lý,...” [2, tr.250]. Quan niệm “muốn làm quan” của một bộ phận người dân rõ
ràng được hình thành trên cơ sở quan niệm “trọng quan khinh dân” đã tồn tại
trong một thời gian dài ở Việt Nam, cho rằng mục đích đi học để làm quan chứ
không phải để sáng tạo khoa học nhằm phục vụ cho thực tiễn cuộc sống hay cải
tạo xã hội.
Theo Nguyễn
Trường Tộ, hạn chế lớn nhất của nền giáo dục hư học là ngụy biện, vô trách
nhiệm đối với xã hội: “Những nhà nho câu nệ không khéo biến hóa, thường hay uốn
lưỡi múa mồm, sau khi sự thành bại đã rõ như gương chiếu rồi mới bàn luận anh
hùng” [2, tr.142]. Cuộc sống an nhàn, viển vông, thích hưởng thụ, không suy tư
đến những vấn đề của thực tại cuộc sống xã hội sẽ hình thành nên những con
người sống vô trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Đây là kết quả của nền
giáo dục hư học. Một cộng đồng, một xã hội phát triển đòi hỏi các cá nhân trong
đó phải có tinh thần trách nhiệm cao. Tinh thần trách nhiệm được biểu hiện cụ
thể qua ba mối quan hệ cơ bản: Cá nhân – gia đình, cá nhân – xã hội, cá nhân –
cá nhân. Tinh thần trách nhiệm là một trong những phẩm chất cao đẹp, thước đo
giá trị của con người, góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc
đẩy sự phát triển của xã hội.
Nguyễn Trường
Tộ chỉ ra sai lầm của việc lấy văn chương hư học làm tiêu chuẩn để chọn lựa
nhân tài: “Trừ Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly và nước ta ra, không có nước nào
lấy văn chương để chọn nhân tài. Đó cũng vì thơ phú không đuổi được giặc, nghìn
lời không được một kế sách...” [2, tr.192]. Theo ông, nhân tài là người có tài
năng, năng lực, có tầm nhìn bao quát, có khả năng nắm bắt được các quy
luật vận động chung trong xã hội và có khả năng phân tích, nhận định, đánh giá
tình hình. Do vậy, nền giáo dục Nho học với những kiến thức xa rời thực
tế, giáo điều sẽ không thể nâng cao trình độ dân trí, không đào tạo được nguồn
nhân lực có chất lượng cao và đủ khả năng gánh vác nhiệm vụ của dân tộc.
Hơn nữa, ông
còn cho rằng, nền giáo dục lạc hậu, xa rời thực tế cuộc sống (hư học) có thể
dẫn tới hậu quả to lớn là làm mất nước, trở thành dân tộc bị nô lệ: “Đã một
thời bao nhiêu quân tử ra đời đều chuyên chuộng chữ nghĩa văn chương, viết sách
làm luận để tự cao lập dị dần dần bỏ mất cái học thực dụng, đến nỗi các nước
Tây Bắc tràn qua đánh phá mà tan thành từng nước nhỏ ” [2, tr.192].
Nguyễn Trường
Tộ chỉ ra rằng, các kiến thức đang áp dụng vào giảng dạy ở nước ta lúc đó hầu
như đều là những kiến thức lạc hậu từ đời xưa của Trung Quốc và không còn phù
hợp: “Nay xem các sách binh thư, luật lịch, phương dược khí nghệ đều từ trước
đời Đường và sau Ngũ đế truyền lại thì đủ biết chuyên môn thời ấy như thế nào”
[2, tr.192]; “ngày nay chúng ta, lúc nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú, lớn lên ra
làm quan thì lại luật, lịch, binh, hình. Lúc nhỏ học nào Sơn Đông, Sơn Tây mắt
chưa từng thấy, lớn lên ra làm thì đến Nam Kỳ, Bắc Kỳ. Lúc nhỏ học thiên văn,
đia lý, chính sự, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ đã sửa đổi hết rồi), lớn lên
ra làm thì lại dùng đến địa lý, thiên văn, chính sự, phong tục của nước Nam...”
[2, tr.249]. Theo ông, việc rập khuôn máy móc hệ thống giáo dục của nước này
vào nước khác sẽ có nhiều điểm không phù hợp. Do vậy, việc tìm kiếm một chương
trình giáo dục phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của xã hội ở một giai
đoạn lịch sử cụ thể được Nguyễn Trường Tộ đặt ra và tìm phương án giải quyết.
Trong khi các
sĩ phu đương thời vẫn chìm trong khoa bảng, Nguyễn Trường Tộ với vốn tri thức
rộng lớn trên nhiều lĩnh vực cùng lòng tự hào dân tộc, khát vọng độc lập dân
tộc, đã chú ý đến tinh thần bình đẳng văn hóa và dự báo về xu hướng thoát
“Trung”: “Nước ta cũng có trời che, tức thiên văn, dưới cũng có đất chở, tức
địa lý. Trong khoảng trời đất, nước ta cũng là một nước tốt lành hẳn hoi, đâu
phải là một miền phụ dung của Tàu. Trong đó, cũng có việc của con người, luân
thường đạo lý của con người, tức là những gì ta phải xây dựng cho hiện tại cũng
như con cháu ta mai sau” [2, tr.249]. Bởi, theo ông, lệ thuộc, dù ít, dù đó là
nước cùng lý tưởng, thì vẫn chưa hoàn toàn tự lực, tự cường, mà cần phải biết
tiếp thu và đồng hóa những thứ có lợi, có ích cho sự phát triển của đất
nước.
Có thể thấy, tư
tưởng của Nguyễn Trường Tộ đi ngược lại hoàn toàn với quan điểm tự tôn dân tộc
của triều đình nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn phủ nhận các nền văn hóa khác, đóng khung
trong nền văn hóa Trung Hoa. Với nhận thức này, nhà Nguyễn đã đóng chặt cánh cửa
của mình, chối bỏ những cơ hội tiếp nhận thành tựu khoa học kỹ thuật mới của
thế giới. Cũng chính vì sự đóng khung đó mà triều đình nhà Nguyễn đã không nhận
thức được thực trạng đất nước trong mối tương quan về chính trị, quân sự, học
thuật,... với các nước phương Tây.
Chủ trương xây
dựng nền giáo dục thực học
Như trên đã
trình bày, nền giáo dục nước ta giai đoạn thế kỷ XIX chủ yếu coi trọng vấn đề
lễ nghi Nho giáo, mà không quan tâm đến vấn đề làm thế nào để có thể ứng dụng
một cách hiệu quả những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào thực tiễn đời sống
xã hội. Với tầm nhìn bao quát, Nguyễn Trường Tộ đã đưa ra tư tưởng cải cách
giáo dục nhằm mục đích khắc phục hạn chế của nền giáo dục hư học và xây dựng
nền giáo dục thực học đáp ứng những yêu cầu mới của thời đại.
Trong giáo dục,
giảng dạy và học tập là hai phần không thể tách rời giữa thầy và trò, giữa
truyền đạt và tiếp thu. Nguyễn Trường Tộ đã đặt ra những câu hỏi cơ bản, như
“vậy học là gì? Là học những thứ chưa biết để biết mà đem ra thực hành (Nhưng
thực hành cái gì? Thực hành ở đâu?) Đó là thực hành những thứ gì thực tế trước
mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa” [2, tr.248]. Theo ông, cải cách giáo
dục thực học sẽ đem lại cho chúng ta cách học hoàn toàn khác so với trước đây.
Cụ thể, học để ứng dụng tích cực vào thực tế cuộc sống, giúp ích con người, chứ
không phải là hư văn, phù phiếm. Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh, giáo dục thực học
phải được phổ cập tới từng người dân. Bởi, đó vừa là quyền lợi vừa là trách
nhiệm của mỗi người trước vận mệnh của dân tộc.
Trước bối cảnh
nước ta lúc đó, Nguyễn Trường Tộ nhận thấy, cải cách giáo dục thực học có vai
trò “... bồi dưỡng nhân tài tức con đường rộng lớn để đi đến giàu mạnh” [2,
tr.291]. Việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội và phát
triển đất nước luôn là vấn đề cốt lõi được đặt ra trong các giai đoạn phát
triển của lịch sử dân tộc. Nền giáo dục có tính định hướng cao sẽ tạo được
nguồn nhân lực đủ năng lực, phẩm chất để giải quyết các vấn đề đặt ra của xã
hội, của đất nước. Trên cơ sở đó, ông đề xuất xóa bỏ nền giáo dục tầm chương
trích cú và xây dựng nền giáo dục thực học.
Để giải quyết
thực trạng yếu kém của nền giáo cũng như góp phần tìm ra câu trả lời đúng đắn
đối với những vấn đề mà xã hội Việt Nam đương thời đang đặt ra, trước hết,
Nguyễn Trường Tộ đề nghị tiến hành cải cách nội dung các môn học cũng như
phương thức thi cử. Cụ thể, ông viết: “Xin cho các trường Quốc học, tỉnh học,
các trường tư và các bài thi Hương thi Hội đều chú trọng vào tình hình hiện
tại, như luật lịch, binh quyền, các chính sự về công hình lại lễ, tất cả đều
được nói thẳng, không giấu giếm, có cái gì tệ hại cái gì hay ho, cái gì nên để
lại, cái gì cần thay đi, nhưng cái cần thiết trước mắt, những cái có thể phân
tích tỷ mỷ, xác đáng, hợp thời, thì được coi là
trúng cách, còn những chuyện cũ chỉ là thứ yếu” [2, tr.194]. Theo ông,
thực hiện điều này sẽ góp phần khắc phục những mặt hạn chế của nền giáo dục hư
học, cập nhật nhiều kiến thức mới, đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ cao
tham gia tích cực vào quá trình cải cách kinh tế, chính trị, xã hội.
Nguyễn Trường
Tộ chủ trương thành lập các khoa hoàn toàn mới mẻ, có giá trị thực dụng, như
khoa Nông chính: Truyền đạt cho người học những phương pháp nông nghiệp cơ bản,
thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai đặc thù ở mỗi vùng và đem lại hiệu quả
kinh tế cao; khoa Thiên văn – Địa lý: Truyền đạt các kiến thức về thiên văn và
địa lý của Việt Nam; khoa Công kỹ nghệ: Cung cấp các kiến thức mới của phương
Tây về kỹ thuật máy móc; khoa Luật học: Cung cấp các kiến thức chung về luật
pháp; khoa Thống kê: Vận dụng kiến thức của các môn khoa học tự nhiên để tổng
hợp, phân tích và đưa ra các nhận định, giải quyết các vấn đề.
Tiếp đến,
Nguyễn Trường Tộ chủ trương cải cách chữ viết của người Việt Nam: “Nước ta là
một nước có tên tuổi vào hàng nhì của phương Đông, vậy mà chỉ một mình nước ta
không có chữ viết” [2, tr.255]. Ông đã chỉ ra những bất cập của việc sử dụng
chữ Hán, bởi việc sử dụng chữ Hán trong cuộc sống hàng ngày đã đưa lại một số
hạn chế, như học chữ Hán mà không đọc được như người Hán, lại thêm một phần
phát âm cũng như một lần giải nghĩa cho nên rất mất công sức để dùi mài mới đọc
hiểu được, lãng phí thời gian cho việc học chữ nhưng lại không có thời gian học
các môn học khác [Xem: 2, tr.256]. Ông là người có công lớn trong truyền bá chữ
quốc ngữ ở Việt Nam. Ý tưởng phổ cập chữ viết riêng cho người Việt Nam để nâng
cao kiến thức cho người dân của ông đã đáp ứng đúng mong mỏi của người dân và
phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, đồng thời góp phần tôn vinh lòng tự
hào dân tộc trong bối cảnh Việt Nam thế kỷ XIX.
Với vốn kiến
thức Nho học trong nước và kiến thức tiếp nhận khi ở nước ngoài, Nguyễn Trường
Tộ đã có những cảm nhận, so sánh, đối chiếu và khẳng định thực tế yếu kém của
nền giáo dục Việt Nam lúc bấy giờ: “Người phương Tây cũng là người, họ đâu có
thể vượt ra khỏi trời đất mà học, thế sao cái học của họ được công hiệu” [2,
tr.193]. Từ đó, ông chủ trương cải cách nền giáo dục của Việt Nam trên cơ sở
tiếp thu có chọn lọc những thế mạnh của nền giáo dục thực học ở phương Tây:
“Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng, học những cái vụn vặt thì chỉ được
cái vụn vặt,...” [2, tr.193].
Nội dung giáo
dục khoa học và văn minh phương Tây mà Nguyễn Trường Tộ lựa chọn để thâu nạp,
bổ sung và vận dụng là các kiến thức khoa học tự nhiên. Ông nhận thấy vai trò quan trọng của khoa học
tự nhiên đối với sự phát triển của nền văn minh phương Tây, đây là cái mà giáo
dục ở Việt Nam lúc đó vẫn còn thiếu: “Hiện nay các nước phương Tây tất cả các
khí cụ kỳ lạ, không có một cái gì là không dựa vào sức tự nhiên của trời đất để
làm” [2, tr.193].
Tuy nhiên,
Nguyễn Trường Tộ cũng không phủ nhận hoàn toàn nền giáo dục nước nhà, cho rằng:
“...Không phải là muốn bỏ hết cái cũ mà mưu cầu cái mới. Nhưng phải lấy cái hay
của mình có sẵn, còn phải gồm cả những cái hay của thiên hạ mới sáng tạo ra” [2,
tr.193]. Đó là cách tiếp cận tri thức mới bằng con đường ngắn hơn mà vẫn lưu
giữ được những giá trị xưa cũ. Quan điểm này của ông, một lần nữa, khác với
nhận thức trước đây của Nho giáo khi cho rằng “xưa hơn nay”. Bởi, theo ông, mỗi
giai đoạn đều có những thành tựu riêng cũng như tồn tại những mặt hạn chế nhất
định. Cái tiến bộ của giai đoại này có thể trở thành lực cản của giai đoạn sau.
Do đó, “xưa” sẽ góp phần tạo tiền đề cho “nay”, mà không phải tuyệt đối như Nho
giáo vẫn khẳng định.
Ngoài ra,
Nguyễn Trường Tộ còn đưa ra chủ trương đào tạo nhân tài bằng cách chọn người
giỏi gửi đi du học tại các nước phương Tây, và sau khi trở về, sẽ góp phần mở
mang kiến thức cho nền giáo dục nước nhà cũng như thành lập các trường kỹ nghệ
nhằm đào tạo nhân lực trong nước. Ông lập luận rằng, giữ bờ cõi giang sơn phải
bằng dân trí, bằng sức mạnh thực sự của trí thức thì mới giành lại được độc
lập, mới giữ được đất nước: “...Dân đã yên sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển,
sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ,
giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của
họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ mới dưỡng
uy súc nhuệ, đợi thời hành động, mất ở phía Đông thì lấy lại ở phía Tây, cũng
chưa muộn gì” [2, tr.111]. Việc đưa học sinh ra nước ngoài học tập sẽ giúp cho
họ nhanh chóng tiếp thu những thành tựu của khoa học kỹ thuật phương Tây và vận
dụng nó trong quá trình cải tạo đất nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội, đồng thời, góp phần thay đổi nhanh chóng tư duy lạc hậu của người Việt Nam
lúc đó. Như vậy, có thể thấy, chiến lược cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ
dựa trên quan điểm cho rằng “dân tộc có tri thức thì mới thực sự trở thành nước
giàu mạnh”.
Tóm lại, có thể
thấy, tư tưởng cải cách giáo dục của Nguyễn Trường Tộ đã phê phán mạnh mẽ nền
giáo dục lạc hậu, lỗi thời của Việt Nam lúc đó. Để giải quyết triệt để vấn đề
cấp bách cũng như lâu dài của dân tộc, theo ông, cần thiết phải tiến hành cải
cách giáo dục, bởi đó là giải pháp tự lực tự cường nhằm nâng cao dân trí và bảo
vệ độc lập dân tộc. Hơn nữa, qua các bản điều trần, nội dung tư tưởng cải cách
giáo dục của Nguyễn Trường Tộ có nhiều điểm tiến bộ, đánh dấu bước chuyển biến
quan trọng trên phương diện tư tưởng trong xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ
XIX.
Tài liệu tham
khảo
[1] Phan Trọng Báu (2015), Giáo dục Việt
Nam cận đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[2] Nguyễn Bá Cần (1988), Nguyễn Trường Tộ:
Con người và di thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Nguyễn Đình Đầu (2013), Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức, Nxb Trẻ.
[4] TS. Lê Thị Lan (2002), Tư tưởng cải
cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[5] Nhiều tác giả (2002), Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, t.1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[6] Nhiều tác giả (2014), Nguyễn Trường Tộ
hôm qua và hôm nay, Nxb Tri thức, Hà Nội.
[7] Đặng Huy Vận, Chương Thâu (1961), Những
đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[8] Viện Khoa học xã hội - Sở Văn hóa thông
tin Tp. Hồ Chí Minh (1992), Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước, Trung
tâm nghiên cứu Hán nôm, Hà Nội.
Tác giả: Nguyễn Minh
Nguyên - Tiến sĩ, Viện
Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.