TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC QUA ĐƯỜNG LỐI VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, VĂN HÓA CỦA CÁC DANH NHÂN VIỆT NAM TIÊU BIỂU TRONG BA THẾ KỶ ĐẦU KỶ NGUYÊN DÂN TỘC ĐỘC LẬP
Tóm tắt: Sau
khi giành lại được quyền tự chủ, nắm được quyền lực chính trị, kiểm soát và
quản lý đất nước, ý thức về dân tộc tự chủ, độc lập của các vị vua Việt Nam
luôn được thể hiện qua đường lối tiến hành song song hai hướng vừa khuyến khích
dân chúng xây dựng cuộc sống an bình, vừa tăng cường sức mạnh quân sự, chính
trị, văn hóa nhằm bảo vệ vững chắc đất nước, củng cố quyền tự chủ và độc lập
dân tộc. Tư tưởng yêu nước trong ba thế kỷ đầu kỷ nguyên dân tộc độc lập tập
trung vào nội dung căn bản là bảo vệ tính chính danh của quốc gia và triều đại
qua việc khẳng định tính nhất thống quyền lực chính trị và thực hiện trách
nhiệm vệ quốc an dân của bậc quân chủ.
Từ khóa:
Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, tư tưởng yêu nước, tính chính danh, vệ
quốc an dân.
Tư tưởng yêu nước thuộc lĩnh vực
lý luận chính trị, là ý thức trách nhiệm đối với sự sinh tồn và phát triển của
giống nòi, cộng đồng, dân tộc được biểu hiện thành những quan niệm, nhận thức,
quan điểm về tính chính danh dân tộc, về động lực, khả năng, đường lối, phương
pháp giành lại lãnh thổ quốc gia, bảo vệ chủ quyền và lợi ích dân tộc, xây dựng
và phát triển đất nước [Xem: 3, tr.20]. Tư tưởng yêu nước là cấu phần quan
trọng nhất của lịch sử tư tưởng Việt Nam, đã có mầm mống hình thành rất sớm
cùng với sự hình thành dân tộc Việt Nam từ trước thời Bắc thuộc Chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng
của Ngô Quyền đã chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới độc
lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Công cuộc phục hưng nước Việt trong ba thế kỷ
đầu độc lập khỏi phương Bắc là quá trình bảo vệ, bồi đắp và phát triển những
nền tảng quốc gia căn bản về chính trị, kinh tế và văn hóa, cũng là quá trình
tư tưởng yêu nước của tầng lớp lãnh đạo quốc gia qua các triều đại Ngô, Đinh,
Tiền Lê, Lý ngày càng trưởng thành và phát triển.
1. Tư tưởng chính danh quân chủ của dân tộc độc lập, tự chủ
Quá trình hình thành dân tộc
đồng nhất với quá trình hình thành ý thức dân tộc. Giai đoạn tự chủ, độc lập
của Việt Nam khởi đầu với tư tưởng về chủ quyền chính trị của một triều đại. Tư
tưởng đồng nhất vương quyền với quốc gia, dân tộc đã thể hiện rất rõ ràng khi
Ngô Quyền giành được quyền lực chính trị, xưng vương, lập nước sau chiến thắng
lẫy lừng quân Nam Tống, có công lớn xác lập lại quyền tự chủ dân tộc, được các
nhà bình sử đời sau tôn vinh là “Vua
tổ phục hưng dân tộc” [1], “Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù
cho chủ, ngoài thì phá được cường địch, bảo toàn cho nước, thật là một người
trung nghĩa lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới
cởi được ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần về
sau này được tự chủ ở cõi Nam vậy” [2, tr.73]. Như vậy, triều đại
Ngô Vương gắn liền với việc Việt Nam thoát khỏi ách trực trị của phương Bắc kéo
dài hơn 1000 năm, mở ra một thời đại mới gắn liền với sự phát triển nhận thức
mới về dân tộc độc lập. Tuy
chỉ là một thời đoạn ngắn ngủi trong sự trường tồn của lịch sử dân tộc bởi tuổi
thọ của mỗi triều đại phụ thuộc rất nhiều không chỉ vào sức mạnh quân sự mà còn
vào sức mạnh chính trị và văn hóa của triều đại đó, nhưng triều Ngô đã xác lập được tính chính
danh của triều đại, của dân tộc. Đó là nền tảng vững chắc, căn bản nhất của một
quốc gia độc lập, tự chủ thời phong kiến.
Đinh Tiên
Hoàng, bằng việc xây dựng thế lực chính trị và quân sự, đã thu phục và đánh dẹp
các thế lực cát cứ, sử gọi là dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất các địa phương,
tự xưng hoàng đế, lập nước Đại Cồ Việt là Nhà nước trung ương tập
quyền đầu tiên của Việt Nam. Với việc tự xưng là hoàng đế nước Đại Cồ Việt,
Đinh Tiên Hoàng, một mặt, đã khẳng định tính nhất
thống về mặt quyền lực chính trị của triều đại mình đối với các vùng lãnh thổ
Việt Nam; mặt khác, đã khẳng định tính độc
lập, chính danh lịch sử của dân tộc trong khu vực các nước chịu ảnh hưởng của
Trung Quốc. Với việc trong nước thì xưng hoàng đế, ngoài nước thì sai sứ sang
cống và cầu hoàng đế Trung Hoa phong vương, vua Đinh Tiên Hoàng đã xác lập một
vị thế chính trị quốc gia chính thống trong khu vực, hoàn toàn mới trong lịch
sử dân tộc. Tống Thái Tổ phong chức Giao Chỉ quận vương cho vua Đinh là sự thừa
nhận chính thức tính chính danh Việt Nam là một nước độc lập, tự chủ như các
nước khác. Truyền thống chính trị - ngoại giao thần phục bề ngoài, độc lập
thực sự được khởi đầu từ Đinh Tiên Hoàng đã đem lại một phương thức tối ưu bảo
vệ nền độc lập và hòa bình cho dân tộc trong suốt thời kỳ phong kiến độc lập.
Điều này đã được các sử gia phong kiến nhận định rất xác đáng. Lê Văn Hưu coi
vua Đinh Tiên Hoàng là “bậc
thánh triết”, Phan Huy Chú nhận
xét: “Xét nước ta từ thời Hùng Vương
mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ không được
dự vào hàng chư hầu triều hội... đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân,
khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ, sách phong của Trung
Quốc mới cho đứng riêng là một nước”[4].
Có thể nói, bắt đầu từ Đinh Tiên Hoàng, tính chính danh của một triều đại được
thừa nhận trên hai phương diện: Nhất
thống được nhân tâm trong nước, đem lại bình an cho xã hội và thuyết phục được
Hoàng đế Trung Hoa thừa nhận nền độc lập, phong vương, bảo đảm hòa bình giữa
hai quốc gia. Nước và dân lúc này đã thuộc về một vị hoàng đế và được Trung Hoa
thừa nhận, tôn trọng. Hai phương diện này phải luôn được đảm bảo cũng là điều
kiện để vương triều đồng nhất với quốc gia, vua đồng nhất với nước. Nói cách
khác, quyền lực, lợi ích của mỗi triều đại chỉ có thể đạt được khi bên trong
được dân chúng ủng hộ, bên ngoài bảo vệ được nền độc lập của dân tộc. Một triều
đại có tính chính danh phải đảm bảo được hai phương diện nói trên và mới được
thừa nhận là đại diện cho dân tộc. Bắt đầu từ triều đại nhà Đinh, lịch sử dân
tộc được vận động và được nhận thức theo chiều hướng dân tộc chủ nghĩa rõ ràng
như vậy. Và, chính nhận thức lịch
sử này đem tới phương cách chứng minh sự tồn tại hữu lý cho mỗi triều đại. Từ
đây, mỗi vương triều đều cố gắng đạt được tính chính danh của mình bằng việc
đồng nhất vương triều với dân tộc qua việc nhất thống nhân tâm và bảo vệ nền
độc lập cho dân tộc (với các giải pháp quân sự và ngoại giao).
Có
thể nói, trên phương diện tư duy lý luận, vua Đinh Tiên Hoàng không lập ngôn,
không để lại trước tác nào, nhưng đường lối quân sự, ngoại giao, chính trị của
ông cho thấy tầm vóc minh triết khôn khéo, hiệu quả và cực kỳ uyên bác của bậc
đế vương, như sử gia Lê Văn Hưu nhận xét: “Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn
người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các
hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết. Vua mở nước
dựng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có
lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết để tiếp nối quốc thống của
Triệu vương chăng” [5,
tr.211].
Đứng trên
quan điểm Nho giáo về tính chính danh của quốc gia - dân tộc, vì công lao vĩ đại
của vua Đinh Tiên Hoàng đối với đất nước, đối với dân tộc, Nguyễn Trãi đã coi triều đại
nhà Đinh là triều đại chính thức đầu tiên của Việt Nam thời đại độc lập, ngang
hàng với triều Tống của Trung Quốc [Xem: 6, tr.58].
Tuy nhiên, dường như khía cạnh an sinh không
phải là chủ đề được các nhà dân tộc chủ nghĩa chú trọng trong xây dựng và truyền
bá tư tưởng yêu nước khi nhận định về vị hoàng đế đầu tiên của thời phong kiến
độc lập, trừ nhận xét của Lê Tung trong Việt
giám thông khảo tổng luận: “Đinh
Tiên Hoàng nhân khi nhà Ngô loạn lạc mất nước, dẹp được Mười hai sứ quân, trời
cho người theo, nhất thống bờ cõi, dùng bọn Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ,
Trinh Tú làm người phù tá, sáng chế chiều nghi, định lập quân đội, vua chính
thống của nước Việt ta thực bắt đầu từ đấy. Kể về mặt dẹp giặc phá địch, thì
công to lắm; nhưng tông miếu chưa dựng, nhà học chưa xây, đặt vạc, nuôi hổ để
làm đồ dùng hình ngục, biếu tê dâng voi, chỉ vất vả về cống dâng; lễ nhạc hình
chính không sửa sang, giữ cửa canh đêm không cẩn thận; rốt cùng chính mình bị
giết, nước bị nguy, vạ lây đến con, đó là không có mưu phòng giữ từ lúc việc
còn bé nhỏ, ngăn ngừa từ khi việc mới chớm ra” [Xem: 8].
Đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu
Thái Bình, dùng hình luật để cai trị, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông để
đảm bảo đời sống và xây dựng quân đội... những việc chính trị này của Đinh Tiên
Hoàng mới cho thấy tư tưởng trị nước, xây dựng một nhà nước pháp trị và quân sự
nhằm củng cố địa vị tôn chủ quốc gia của ông, mà chưa bộc lộ tư tưởng an dân - một nửa không thể thiếu của tư tưởng
quốc gia dân tộc, tư tưởng yêu nước. Nước là của vua. Vua là người giành được
nước và bảo vệ được chủ quyền của mình đối với nước. Đó là thực chất mối quan
hệ giữa vua với nước thời kỳ đầu độc lập của Việt Nam. Lúc này, nhân dân và lãnh thổ là đồng nhất
trong ý niệm về nước thời phong kiến, đều thuộc sở hữu của nhà vua. Trong quan
hệ sở hữu, vua là chủ sở hữu, nước, quốc gia là vật bị sở hữu. Tính chính danh
của dân tộc được đồng nhất với tính chính danh của vị quân chủ. Lợi ích của vị
quân chủ được đồng nhất với lợi ích dân tộc. Bảo vệ đất nước chính là bảo vệ đế
quyền, bảo vệ quyền làm chủ đất nước của nhà vua. Quyền lợi của người dân chưa
được quan tâm, chú ý. Xu hướng chú trọng tới công tích của một triều đại trong
việc nhất thống thiên hạ, lập nước, thuyết phục Trung Hoa phải thừa nhận chủ
quyền và tính chính danh của dân tộc đã trở thành đường hướng cơ bản trong việc
xây dựng tư tưởng yêu nước cho nhân dân thời phong kiến độc lập, trong khi xu
hướng đảm bảo an sinh cho dân chúng của triều đại dường như bị làm mờ đi. Tư
tưởng yêu nước được xây dựng dựa trên sự ngợi ca công tích lập nước, bảo vệ đất
nước của vị quân vương trở thành chủ đạo bắt đầu từ các nhà sử học đầu tiên của
Việt Nam, như: Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú...
2. Tư tưởng vệ quốc
an dân
Phải đến triều Lý, tư duy chính trị Việt Nam mới
bắt đầu quan tâm tới việc an dân. Nhân dân như một yếu tố quyết định thành bại
trong trị nước đã được tính đến khi nhà vua định ra một chủ trương chính trị
nào đó. Tư tưởng yêu nước thời Lý đã chú trọng tới nội dung yêu dân, quan tâm
tới lòng dân. Cho dù không có bằng chứng cụ thể cho việc người dân được trực
tiếp tham gia vào một quyết định chính trị nào đó, nhưng việc vua Lý Thái Tổ
bày tỏ sự trân trọng tới ý dân, lòng dân khi ra “Chiếu dời đô”, một việc trọng
đại quyết định tới sự an nguy và tính trường tồn của triều đại, đã cho thấy
nhận thức về quốc gia - dân tộc của triều Lý đã phát triển lên một tầm nhìn
mới, đó là sự đồng nhất triều đại với quốc gia, với nhân dân. Trong thông
điệp truyền tới dân chúng, Lý Thái Tổ đã tuyên bố sự tôn trọng ý dân trong điều
hành chính sự. Lòng dân và ý trời là hai nhân tố quyết định cho sự tồn vong,
thành bại của một triều đại, của một quốc gia. Và, nhà vua chính là người
thuận theo lòng dân và ý trời để hành động. Trong quan niệm của Lý Thái Tổ,
lòng dân mong muốn chính là sự thể hiện của ý trời, trời mượn lòng dân để thể
hiện ý chí của mình. Thuận lòng dân là thuận ý trời, là “thế thiên hành đạo”,
theo đó mà triều đại được dân chúng ủng hộ, vạn sự thành nên trường tồn với
trời đất. Việc dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La đã được Lý Thái Tổ cân nhắc kỹ
lưỡng trên mọi phương diện, đặc biệt chú trọng tới vấn đề an sinh lâu dài cho
dân chúng và sự trường tồn cho đất nước “...Thành Đại La là cố đô của
Cao Vương, ở vào nơi trung tâm của trời đất, có cái thế rồng cuốn hổ ngồi, đúng
ngôi vị Nam, Bắc, Đông, Tây, thuận núi sông ngoảnh đi ngoảnh lại, đất rộng mà
bằng, cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cái cảnh khổ ngập lụt, muôn vật rất dồi
dào. Xem khắp đất Việt, chỉ đây là nơi thắng địa. Thật là nơi tụ hội quan trọng
của bốn phương, nơi kinh đô bật nhất của đế vương muôn đời”
[7, tr.235-236].
Nhà Lý đã phát triển nội dung tư tưởng yêu nước theo hướng chú trọng tới đời
sống sinh kế của người dân, coi việc xây dựng quốc gia phồn thịnh, trường tồn
là đường lối trị nước lâu dài, quan trọng không kém việc bảo vệ chủ quyền quốc
gia, chống giặc ngoại xâm. Vua Lý Thái Tổ đã dùng lý luận thiên mệnh và ý dân
để bảo vệ tính chính danh nhất thống thiên hạ, làm chủ đất nước và thực hiện
chủ quyền của mình trên cả hai phương diện: Bảo vệ đế quyền (bên trong
trấn dẹp phản loạn, bên ngoài bảo vệ độc lập dân tộc, buộc Trung Hoa phải thừa
nhận chủ quyền) và chăm lo đời sống dân chúng.
Công việc trị an của vua Lý Thái Tổ trong năm đầu lên ngôi bao gồm việc
xây dựng kinh đô Thăng Long, phát triển Phật giáo, đại xá thuế khóa 3 năm cho
dân chúng, tha thuế cho người nghèo, cô quả, già yếu... là những việc lớn, hợp
lòng dân, đem lại cuộc sống ổn định, an bình cho dân chúng. Việc đại xá thiên
hạ sau khi lên ngôi, thu phục nhân tâm hướng về triều đại mới của vua Lý Thái
Tổ đã trở thành một thông lệ không thể thiếu từ đó về sau. Chính từ sự gắn bó
lợi ích giữa nhân dân và nhà vua, chính từ sự đảm bảo của nhà vua cho cuộc sống
an sinh của nhân dân mà người dân nhận thức được sự gắn bó cuộc sống của mình
với vị quân chủ, với đất nước. Vì thế, người dân ý thức được bổn phận lao động,
đóng thuế, đi lính, xây dựng và bảo vệ triều đại, bảo vệ đất nước. Đó là cái lý
tất yếu mà quần thần đã khẳng định với vua Lý Thái Tổ: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho
nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có,
điều lợi như thế, ai dám không theo” [7, tr.244].
Trải qua ba triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê, ý niệm
về chủ quyền của nhà vua đồng nhất với quốc gia độc lập đã được triều Lý phát
triển mở rộng về mặt lý luận khi khẳng định tính chính danh của triều đại là
nhờ có được thiên ý và lòng dân, muốn giữ được tính chính danh làm chủ thiên hạ
đó thì người làm vua phải là người nhất thống được nhân tâm bằng cả biện pháp
quân sự và dân sinh. Câu chuyện cấp ruộng ném đao thưởng công cho Lê Phụng Hiểu
đi tiên phong phù vua Lý Thái Tông đánh thắng giặc phương Nam cho ta thấy một
khía cạnh trong cách thức sử dụng ruộng công (quan địa) thời Lý. Theo đó, sở
hữu ruộng tư của người dân được triều đình tôn trọng, nhà vua chỉ dùng ruộng
công để ban thưởng cho người có công [7, tr.154]. Các chính sách ruộng đất
tôn trọng lệ cũ quân điền song song với tư điền, chế độ thuế khóa nhẹ nhàng
thời Lý cho phép chúng ta khẳng định đường lối khoan hòa coi trọng nhân tâm,
lấy dân làm gốc trong trị nước của các vua Lý [7,
tr.246, 250].
Nền chính trị khoan hòa với những chính sách hợp lòng dân, trái ngược với nền
pháp trị khắc nghiệt thời Đinh, Lê, được thực thi qua nhiều đời vua, đã giúp
nhà Lý củng cố nhân tâm gắn bó với triều đại. Nhà Lý đã tiến một bước dài trên
con đường đồng nhất ý niệm nước với vua cả về lý luận và thực tiễn.
Bên cạnh các chính sách chăm lo đời sống vật
chất cho dân chúng, vua Lý Thái Tổ đã chú trọng phát triển các nền tảng văn hóa
nhằm xây dựng sự nhất thống nhân tâm
dân tộc trên phương diện tinh thần, đặt một nền móng tinh thần vững vàng cho
thời đại mới phục hưng quốc gia - dân tộc. Phật giáo được coi là quốc giáo đã trở
thành nền tảng tinh thần chính thức xây nên nền văn hiến dân tộc, đáp ứng nhu
cầu tâm linh dân chúng và nhu cầu nhất thống tinh thần dân tộc của nhà Lý. Quốc
gia Phật giáo Đại Việt kéo dài suốt bốn thế kỷ từ thời Lý đến hết thời Trần đã
được định vị với những đặc trưng văn hiến rực rỡ: Nhiều bậc quân vương minh triết, nhiều anh hùng văn
võ song toàn, nhiều tác phẩm văn chương hoàn mỹ với những giá trị đạo đức - nhân văn cổ
điển. Bắt đầu từ đây, Phật giáo chính thức là một lực lượng tinh thần tập hợp
lòng dân, tham dự vào việc xây dựng, củng cố tính bền vững của dân tộc bằng
việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần của đất nước. Các nhà sư, các
phật tử thời này không chỉ tham dự việc triều chính, mà còn góp phần tạo lập nên nền văn học thời Lý
sán lạn và độc đáo cho dân tộc. Văn học thời Lý không chỉ phản ánh tâm hồn Việt
thuần hậu, thanh tao, bình thản; trí tuệ Việt minh triết, uyên áo mà còn phản
ánh khí phách Việt anh hùng, chuộng nghĩa. Nền văn học ấy đã lý luận hóa lòng
yêu nước bằng lập luận sắc bén về dân tộc và chủ quyền đất nước “Nam quốc sơn
hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” [7, tr.224], bằng tư tưởng chính trị lý tưởng yêu dân, chuộng
nghĩa “Trời sinh ra dân chúng, vua có đức thì tin yêu. Đạo làm chủ dân cốt ở
nuôi dân (...). Số là, muôn dân đều dựa vào trời, bỗng sa vào sự
độc hại của thói tham lợi. Bề trên cố nhiên phải thương xót (...). Nay ta ra quân cốt cứu vớt muôn dân. Hịch văn
truyền đến để mọi người đều nghe. Ai nấy hãy
tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi” [7, tr.276], bằng triết học nhân sinh tâm đạo thâm viễn “Mạc vị xuân tàn hoa lạc
tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” [7, tr.255]. Tư tưởng yêu nước minh triết trong văn học thời Lý đã góp phần hun đúc
nên truyền thống yêu nước gắn với yêu dân, bảo vệ đất nước gắn với bảo vệ nhân
dân của nhà cầm quyền.
Lý Thường Kiệt theo lệnh vua Lý Nhân Tông đã hùng hồn tuyên bố việc
thực hiện trách nhiệm nuôi dân, bảo vệ cuộc sống an lành cho dân của người làm
chủ đất nước là chính nghĩa của cuộc chinh phạt châu Khâm, châu Liêm nhà Tống
năm 1075 trong áng văn bất tuyệt “Bài văn lộ bố đánh giặc Tống”. Lần đầu tiên
trong lịch sử bảo vệ chủ quyền dân tộc, nhà Lý đã chủ động tấn công và tuyên bố
tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh, phá tan âm mưu nhà Tống xâm lược Đại
Việt. Trên phương diện tư tưởng yêu nước, chưa bao giờ ý thức về tính chính
danh dân tộc, nhận thức về trách nhiệm vệ quốc an dân của bậc quân chủ được
biểu đạt hào hùng và có tính thuyết phục nhân tâm đến vậy. Cũng chưa bao giờ sự
thống nhất giữa tư tưởng và hành động của chủ nghĩa quốc gia phong kiến đạt tới
tầm mức trọn vẹn như vậy.
Cũng bắt đầu từ triều Lý, tư
tưởng yêu nước đã chính thức sử dụng lý luận của Nho giáo, nghi lễ của tín
ngưỡng dân gian để tuyên truyền, xây dựng và củng cố tinh thần dân tộc cho dân
chúng. Những tuyên bố về chủ quyền của vua nước Nam đối với quốc gia là lẽ phải
hiển nhiên được ghi nhận trong sách trời, tuyên bố về đạo của người làm vua là
phải chăm nuôi, xót thương, bảo vệ dân chúng... đều chịu ảnh hưởng của quan
niệm chính trị về mệnh trời, thiên tử, nhân nghĩa... của Nho giáo. Những tư
tưởng chính trị này không chỉ nhằm khẳng định tính chính danh của triều đại
trong việc làm chủ đất nước mà còn xác định rõ tính chính danh đó trong việc
xác định trách nhiệm chăm dân như là bổn phận của người làm vua. Ngoài những
chính sách an dân thực tiễn, triều Lý đã quan tâm tới việc xác định bổn phận
của người làm tôi, làm dân phải trung thành với nhà vua qua các nghi lễ tôn
giáo và xây dựng các chuẩn mực đạo đức của bề tôi. Để củng cố lòng tin và sự
trung thành với nhà vua, trước hết là trong đội ngũ quan lại, bắt đầu từ triều
vua Lý Thái Tông, lễ tuyên thệ trung quân trước thần núi Đồng Cổ được tổ chức
hàng năm để các quan đến trước thần vị, cùng nhau uống máu ăn thề: “Làm con bất
hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết” [7, tr.256]. Việc tổ chức hội thề thần
Trống Đồng, biểu tượng của uy tín và sức mạnh hiệu triệu, tập hợp, đoàn kết
cộng đồng của thủ lĩnh Việt từ xa xưa, đã thiêng hóa việc tạo dựng lòng tin và
sự trung thành của dân chúng với vị quân chủ, người đã được trời trao mệnh có
bổn phận phải chăm lo đời sống an sinh cho dân chúng.
Như vậy, bắt đầu từ triều Lý
Thái Tông, lòng trung thành với nhà vua cùng với đạo hiếu của người làm tôi,
con đã được xác định là bổn phận bắt buộc, trở thành chuẩn mực đạo đức cao nhất
của người bầy tôi, người làm quan phò giúp nhà vua trị nước. Bất trung có tội
nặng như bất hiếu và đều bị trừng trị tội chết. Trong bối cảnh lễ thề thần Đồng
Cổ được tổ chức thường niên sau khi Lý Thái Tông vượt qua nạn cốt nhục tương
tàn tranh ngôi quân chủ, nghi lễ này, một mặt, nhằm mượn uy thần để ngăn tránh ý
đồ tranh ngôi, thoán vị trong quần thần; mặt
khác, đã tạo nên một quy chuẩn đạo đức bền vững, nghiêm ngặt cho người làm
tôi phổ biến trong dân chúng. Từ đây trở đi đã có khung hình phạt tối trọng cho
kẻ bất trung, bất hiếu, phản vua. Trong văn cảnh lý luận yêu nước diễn đạt ý
niệm vua đồng nhất với nước, là chủ của nước, thì bất trung với vua chính là
bất trung với nước, phản vua chính là phản quốc và có tội như bất hiếu, là tội
danh nặng nhất và dễ hình dung nhất trong ý niệm đạo đức của dân chúng và của
Nho giáo trước nay vẫn lấy đức hiếu sinh của trời đất tôn trọng sự sống làm lý
luận căn bản, cội rễ của mọi phán xử hành vi đạo đức của con người, không phân
biệt vị thế chính trị. Nói cách khác, sự đồng nhất giữa đức trung với đức hiếu,
giữa đạo đức xã hội và đạo đức gia đình trong bổn phận của bầy tôi là một nội
dung mới trong biểu đạt tư tưởng yêu nước của triều Lý.
Như vậy, tư tưởng yêu nước triều Lý đã phát
triển lên một tầm mức mới với cả độ cao, bề rộng và chiều sâu của nhận thức về
quốc gia, dân tộc, chủ quyền, trách nhiệm của vị quân chủ và bổn phận của dân
chúng, trong đó, trách nhiệm vệ quốc an dân của nhà vua được chính danh dựa
trên chủ quyền có được nhờ mệnh trời và lòng dân, bổn phận trung quân của dân
chúng được xác lập và yêu cầu bởi những lợi ích an sinh mà vị quân chủ đem lại
khi thực hiện trách nhiệm đế vương.
Tư tưởng yêu nước Việt Nam thời
phong kiến độc lập đã được khởi đầu bằng ý thức khẳng định tính chính danh quân
chủ của dân tộc độc lập, tự chủ qua việc xưng vương, lập nước, xây dựng triều
chính của Ngô vương Quyền. Cùng với các hoạt động vệ quốc, trị nước, an dân qua
các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, tư tưởng yêu nước ngày càng được làm sâu sắc
và bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới xoay quanh nội dung chủ đạo là sự đồng nhất
quốc gia với quân chủ, do đó tính chính danh của một triều đại phụ thuộc vào sự
nhất thống quyền lực của bậc quân chủ và năng lực vệ quốc an dân của bậc quân chủ
đó. Từ triều đại Ngô vương Quyền đến triều Lý, các bậc quân chủ đã từng bước
thực hiện tư tưởng xây dựng quốc gia vững mạnh có nền chính trị độc lập, có đời
sống kinh tế phồn vinh và có nền văn hiến đặc sắc. Những nền tảng tư tưởng yêu
nước đó đã được xác lập trong hiện thực lịch sử của dân tộc ba thế kỷ đầu của
kỷ nguyên độc lập và trở thành những nội dung trụ cột cho sự phát triển dân tộc
vào thời kỳ tiếp theo.
Lê Thị Lan
Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).
Tài liệu tham khảo
[1] Phan Bội Châu toàn tập,
Việt Nam vong quốc sử.
[2] Trần Trọng Kim (1968), Việt
Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
[3] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên) (1990), Lịch
sử tư tưởng Việt Nam, t.1,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[4] Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, Viện sử học Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5] Đại Việt sử ký toàn thư (2011), Bản in nội các quan bản, Mộc bản khắc
năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
[6] Tổng tập văn học Việt Nam (2000), t.4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[7] Trung tâm Khoa học xã
hội và nhân văn Quốc gia. Tổng tập văn học Việt Nam (2000), Lý Công Uẩn, Chiếu dời đô, t.1, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
[8] Theo
https://vi.wikipedia.org.