QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ
Tóm tắt: Quan
điểm duy vật về lịch sử là một thành tựu lý luận có ý nghĩa vạch thời đại mà C.Mác
và Ph.Ăngghen đã mang lại cho nhân loại. Trong đó, vấn đề quan hệ giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội là một nội dung quan trọng. Được đề xuất ngay từ giai
đoạn đầu hình thành chủ nghĩa Mác (1844 - 1848), qua những tác phẩm quan trọng,
như Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu, Gia đình
thần thánh, Hệ tư tưởng Đức,... những quan niệm về vai trò quyết định của tồn
tại xã hội đối với ý thức xã hội cũng như về tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội đã góp phần quan trọng trong
việc triệt để chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, tính chất siêu hình của chủ
nghĩa duy vật cũ, cũng như những biến tướng của chủ nghĩa duy tâm và duy kinh
tế hiện nay.
Từ khóa: Tồn tại xã hội, ý thức xã hội, mối quan hệ giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội, quan niệm duy vật về lịch sử.
Từ giữa những
năm 40 của thế kỷ XIX, khi đã hoàn toàn chuyển sang lập trường duy vật chủ
nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức để nghiên cứu và luận giải sự phát triển xã hội,
hình thành nên quan niệm duy vật về lịch sử mà ở đó, trong lĩnh vực xã hội, vật
chất là tồn tại xã hội, còn ý thức là ý thức xã hội. Thật ra, mối quan hệ giữa
tồn tại xã hội và ý thức xã hội đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định ngay từ
giai đoạn hình thành những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong nhiều tác phẩm ở giai đoạn này, các ông luôn
khẳng định: Tồn tại xã hội có trước và quyết định ý thức xã hội; ý thức xã hội
là cái có sau và là sự phản ánh tự giác, tích cực ít nhiều tồn tại xã hội;
trong quan hệ với tồn tại xã hội, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và có
tác động trở lại tồn tại xã hội (thông qua hoạt động của con người).
1. Vai trò
quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Trong Lời nói
đầu (năm 1844) viết cho tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen (năm 1843), C.Mác đã khẳng định rằng quan hệ kinh tế là cái quyết định
quan hệ chính trị và các hình thức tư tưởng hệ. Khi phê phán Hêghen coi nhà
nước là động lực của lịch sử, là cái sản sinh ra “xã hội công dân”, quy định
chế độ kinh tế của xã hội, C.Mác cho rằng, không phải nhà nước sinh ra xã hội
công dân, mà ngược lại, xã hội công dân sinh ra nhà nước [Xem: 1, tr.569-590].
Điều này cho thấy ngay từ tác phẩm này, ở C.Mác đã bắt đầu có sự hình thành rõ
nét quan niệm duy vật về lịch sử.
Đến Hệ tư tưởng
Đức, tác phẩm đặt nền móng cho những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử
của C.Mác và Ph.Ăngghen, khi đề cập đến mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội, các ông đã tập trung nhấn mạnh tính thứ nhất của tồn tại xã hội,
chứng minh sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội và sự cần thiết
cũng như hiệu lực của ý thức cách mạng.
Bút chiến quyết
liệt với các nhà duy tâm chủ nghĩa thuộc phái Hêghen trẻ và quan niệm của tôn
giáo, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề xuất và khẳng định quan niệm duy vật lịch sử về
sự sản xuất ra ý thức. Các ông chỉ rõ, ngay từ đầu, ý thức đã gắn bó mật thiết
với hoạt động vật chất và sự giao tiếp của con người: “Sự sản xuất ra những ý
niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là trực tiếp gắn liền mật thiết với
hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con người - ngôn ngữ của đời
sống hiện thực. Ở đây, những quan niệm, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con
người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của các quan hệ vật chất của họ…”
[3, tr.37]. Do vậy, về bản chất, ý thức của con người là sản phẩm của các quan
hệ vật chất của họ, hay là sự tự ý thức về chính đời sống hiện thực của con
người. Rằng, “chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm, v.v.,
của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị
quy định bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của họ và
bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi
nhất của những sự giao tiếp đó. Ý thức […] không bao giờ có thể là cái gì khác
hơn là sự tồn tại được ý thức […], và sự tồn tại của con người là quá trình đời
sống hiện thực của con người” [3, tr.37]. Luận điểm này không chỉ cho thấy nội
dung của các khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mà còn cho thấy cả
nguồn gốc hình thành và mối liên hệ giữa chúng.
Trong khi bàn
về nguồn gốc, bản chất của ý thức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm rõ ý thức mang
tính xã hội. Ý thức con người, ngay từ đầu, đã liên hệ khăng khít với sản xuất
vật chất, gắn với hoạt động thực tiễn lịch sử của con người. Mặt khác, ý thức
còn chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và
các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định. Do vậy, ý thức cũng
là một hiện tượng xã hội. Về điều này, các ông khẳng định: “Ngay từ đầu, ý thức
đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy, chừng nào con người còn tồn tại”
[3, tr.43]. Con người và xã hội loài người bắt đầu từ đâu thì ý thức của họ
cũng bắt đầu từ đó và ý thức đó là sản phẩm tất yếu của đời sống hiện thực của
con người. Các ông cũng cho rằng, sự phong phú thực sự về tinh thần của cá nhân
là hoàn toàn phụ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ hiện thực của họ
và, “ngay cả những ảo tưởng hình thành trong đầu óc con người cũng là những vật
thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chất của họ, một quá trình có thể
xác định được bằng kinh nghiệm và gắn liền với những tiền đề vật chất. Như vậy
thì đạo đức, tôn giáo, siêu hình học và những dạng khác của hệ tư tưởng cùng
với những hình thái ý thức tương ứng với chúng, liền mất ngay mọi vẻ độc lập bề
ngoài” [3, tr.38].
Như vậy, theo
C.Mác và Ph.Ăngghen, không phải mọi quan hệ của con người đều là sản phẩm của ý
thức như phái Hêghen trẻ quan niệm, mà là ngược lại: “Không phải ý thức quyết
định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [3, tr.38]. Với quan niệm
này, các ông đã đưa ra một nhận định hoàn toàn mới không chỉ đối với tư tưởng
duy tâm từng thống trị trước đó, mà còn mới đối với cả các nhà triết học duy
vật tiền bối, kể cả Phoiơbắc, về nguồn gốc của ý thức. Tư tưởng không phải là
sản phẩm thụ động được tạo ra từ vật chất như Phoiơbắc quan niệm, mà nó được
sinh ra từ tồn tại xã hội với tư cách một quá trình hiện thực của đời sống con
người, trong đó hoạt động thực tiễn vật chất của họ là cái đóng vai trò quyết
định. Ngoài ra, còn cần phải xem xét tất cả những hình thái và sản phẩm của ý
thức xã hội đã phát sinh, phát triển từ cơ sở vật chất và từ những mâu thuẫn
của cơ sở đó.
Trong khi khẳng
định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn
mạnh phải xác định tiền đề đầu tiên cho mọi sự tồn tại của con người, và do đó,
là tiền đề của mọi lịch sử là người ta phải có khả năng sống rồi mới có thể
“làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức
uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa [3, tr.39-40]. Hành vi lịch sử đầu
tiên của con người là việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất. Đó là điều
kiện cơ bản của mọi lịch sử, của mọi sự tồn tại người trước đây, hiện nay cũng
như về sau. Ở đây, cần lưu ý rằng, các ông coi việc sản xuất ra đời sống vật
chất là điều kiện cơ bản, đầu tiên, nhưng tuyệt đối không phải là duy nhất và
đó không phải là một dạng của thuyết quyết định luận về kinh tế như những người
phê phán chủ nghĩa Mác đã và đang xuyên tạc.
Thấy rõ tính
thứ nhất và quyết định của đời sống hiện thực, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh:
Phải “xuất phát từ xã hội công dân mà giải thích toàn bộ những sản phẩm lý luận
khác nhau và mọi hình thái ý thức, tôn giáo, triết học, đạo đức, v.v. và theo
dõi quá trình phát sinh của chúng trên cơ sở đó” [3, tr.54].
Như vậy, khác
với quan niệm duy tâm, quan niệm duy vật về lịch sử luôn xuất phát từ chính
việc sản xuất ra đời sống vật chất và luôn đứng trên mảnh đất hiện thực của
lịch sử; nó không căn cứ vào tư tưởng để giải thích thực tiễn, mà ngược lại, nó
giải thích sự hình thành của tư tưởng căn cứ vào thực tiễn vật chất. Trong lịch
sử, nền sản xuất vật chất không chỉ để lại dấu ấn trong những cuộc khai thác
tài nguyên, chiến tranh và mọi phương diện khác của đời sống xã hội, mà còn chi
phối chính trị, luật pháp, văn hóa hay tư tưởng của mỗi thời đại. Bao giờ cũng
vậy, trên nền tảng tồn tại xã hội, trong đó cốt lõi là nền sản xuất vật chất,
tất cả đời sống tư tưởng, văn hóa, tinh thần, chính trị, luật pháp hay văn học,
nghệ thuật của con người và cộng đồng được hình thành và đều bị quy định, chi
phối bởi nền tảng vật chất đó.
Trong khi đấu
tranh chống lại những quan điểm duy tâm và khẳng định lập trường duy vật về
lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ nguồn gốc giai cấp của chủ nghĩa duy
tâm. Đó là do sự phân công lao động tạo ra sự phân biệt giữa “lao động vật
chất” và “lao động tinh thần”. Cùng với sự xuất hiện giai cấp, hoạt động trí
óc, tinh thần trở thành hình thức hoạt động chủ yếu tuyệt đối của một số nhóm
người (nhà triết học, tăng lữ) và giai cấp thống trị: “Bắt đầu từ lúc đó ý thức
có thể thật sự tưởng tượng rằng nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức
về thực tiễn hiện có, rằng nó có thể thực sự đại biểu cho cái gì đó, mà không
đại biểu cho một cái gì hiện thực cả; bắt đầu từ lúc đó, ý thức có khả năng tự
giải thoát khỏi thế giới và chuyển sang xây dựng lý luận “thuần túy”, thần học,
triết học, đạo đức, v.v.” [3, tr.45]. Từ chỗ tách rời ý thức với thế giới vật
chất, tuyệt đối hóa mặt hình thức của quá trình nhận thức đã dẫn các nhà duy
tâm chủ nghĩa đến những ảo tưởng về sức mạnh của tư tưởng, tinh thần.
C.Mác và
Ph.Ăngghen còn chỉ ra nguyên nhân phát sinh, phát triển của hệ tư tưởng cách
mạng. Chính sự xung đột giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ đã
bóc trần tính không bền vững, tính ảo tưởng và giả dối của những tư tưởng chính
trị, luật pháp, tôn giáo... của giai cấp thống trị, từ đó tất yếu sản sinh ra
những tư tưởng mới tiến bộ hơn và thích ứng với hiện thực mới, đồng thời biểu
hiện ở tình trạng các giai cấp bị bóc lột không thể chịu đựng được điều kiện
sinh hoạt cũ nữa, và do vậy, họ phải đứng lên đấu tranh chống lại giai cấp bóc
lột. Và, mọi mâu thuẫn, biến đổi của tư tưởng đều có nguyên nhân từ nền tảng
vật chất của xã hội, “ngay cả khi lý luận đó, thần học đó, triết học đó, đạo
đức đó, v.v., mâu thuẫn với những quan hệ hiện có thì điều đó cũng chỉ có thể
xảy ra do chỗ những quan hệ xã hội hiện có đã mâu thuẫn với những lực lượng sản
xuất hiện có” [3, tr.45]. Từ đó hình thành ý thức dân tộc, ý thức cách mạng và
sự chín muồi của hiện thực cách mạng quyết định sự phát sinh, phát triển của tư
tưởng cách mạng.
Những tư tưởng
trên cùng với những nghiên cứu về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng... là những điểm xuất
phát để đến tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (năm 1847), C.Mác khái quát một
cách đầy đủ bản chất của quan niệm duy vật về lịch sử: “Những quan hệ xã hội
đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng
sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi
phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những
quan hệ xã hội của mình” [4, tr.187].
Như vậy, theo
quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, vai trò quyết định của đời sống vật chất đối
với đời sống ý thức, tinh thần của con người được thể hiện không chỉ trong lĩnh
vực sản xuất vật chất, mà còn cả trong đời sống tư tưởng, tinh thần của mỗi cá
nhân và cộng đồng. Toàn bộ các hình thái ý thức, từ chính trị, pháp luật đến
đạo đức, tôn giáo hay nghệ thuật, đều nảy sinh trên một cơ sở hiện thực là tồn
tại xã hội, đều phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội đó quyết định. Sự
phong phú, đa dạng hay nghèo nàn của đời sống tinh thần đều do sự phong phú hay
nghèo nàn của hiện thực tạo nên.
2. Vai trò của
ý thức xã hội trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội
Khẳng định tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen không tuyệt đối
hóa vai trò của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người.
Không chỉ thế, các ông còn nhận thấy tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội, cũng như sức mạnh cải tạo của nó đối
với tồn tại xã hội.
Bàn về hệ tư
tưởng cùng với những hình thái ý thức xã hội, C.Mác đã vạch rõ bản chất giai
cấp của thượng tầng kiến trúc tư tưởng. Ông khẳng định: Trong mọi thời đại,
những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nó có tác
dụng là vũ khí tinh thần đối với sự thống trị của giai cấp này. Rằng, “giai cấp
nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh
thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật
chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói
chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng
thời bị giai cấp thống trị đó chi phối” [3, tr.66]. Nói một cách cụ thể là,
những người nắm giữ sức mạnh kinh tế cũng sẽ có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh
thần của xã hội. Sự thống trị của hệ tư tưởng chính trị, pháp luật của giai cấp
thống trị chính là sự đảm bảo vững chắc cho sự thống trị về kinh tế của họ.
Điều đó càng trở nên rõ nét hơn khi mà trong giai đoạn hiện nay, các ông trùm
của các tập đoàn kinh tế lớn, ngoài việc có thể tác động trực tiếp tới sản xuất
xã hội, can thiệp điều khiển các dòng hàng hóa hay thị trường tiền tệ,…, họ còn có thể gây ảnh
hưởng đến chính trị, văn hóa, tư tưởng của toàn xã hội, thậm chí có thể chi
phối cả giới truyền thông thế giới... và sức mạnh đó là không thể xem thường.
Theo C.Mác và
Ph.Ăngghen, mặc dù đời sống vật chất giữ vai trò quyết định, nhưng ý thức, tinh
thần, tư tưởng cũng có tính độc lập nhất định. Khi phân tích về quan hệ biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp, C.Mác đã chỉ rõ sự tồn
tại dai dẳng những quan hệ lợi ích, hay vấn đề quyền lực truyền thống trong các
cộng đồng người: “Những giai đoạn và lợi ích khác nhau không bao giờ bị hoàn
toàn vượt quá mà chỉ bị lệ thuộc vào những lợi ích đang chiến thắng, và chúng
vẫn tiếp tục tồn tại lay lắt bên cạnh những lợi ích đó trong hàng thế kỷ” [3,
tr.104]. Và, “điều đó cũng giải thích rằng tại sao trong một số vấn đề cho phép
chúng ta trình bày khái quát hơn thì ý thức đôi khi dường như đi trước những
quan hệ kinh nghiệm đương thời, đến nỗi trong những cuộc chiến đấu của một thời
đại sau, người ta có thể dựa vào quyền uy của những nhà lý luận của thời đại
trước” [3, tr.105]. Như vậy, mặc dù chịu sự quy định của tồn tại xã hội, song
tư tưởng, lý luận, suy rộng ra là đời sống ý thức, tinh thần, cũng có quy luật
nội tại riêng của nó, có sự kế thừa, tiếp nối giữa các thời đại, có cả sự bảo
thủ, lạc hậu và tính vượt trước của nó trong quá trình phản ánh tồn tại xã hội.
Tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội được thể hiện đặc biệt rõ qua sự tác động trở lại
của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Với tính chất này, ý thức xã hội có
thể đóng vai trò đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. Trong
Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu, C.Mác viết:
“Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ
khí. Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý
luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
[1, tr.580]. Không chỉ thế, C.Mác còn đặc biệt chú ý đến sức mạnh của tri thức
lý luận đối với hiện thực, chỉ rõ vai trò to lớn của lý luận trong định hướng
phong trào cách mạng: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật
chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của
mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đánh một cách triệt để vào cái mảnh đất
nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng người Đức thành con người sẽ hoàn
thành” [1, tr.589]. Đầu não của sự giải phóng con người, theo C.Mác, là triết
học. Nhưng triết học chỉ thực hiện được vai trò của nó khi đáp ứng được nhu cầu
thực tiễn cách mạng và được thấm sâu vào giai cấp cách mạng, đủ sức lôi cuốn
họ. Ông viết: “Những nhu cầu lý luận liệu có trực tiếp trở thành những nhu cầu
thực tiễn hay không? Tư tưởng cố sức biến thành hiện thực vẫn chưa đủ; bản thân
hiện thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng” [1, tr.582]. Điều đó cho thấy,
sự phù hợp biện chứng giữa tư tưởng và hiện thực, giữa ý thức xã hội và tồn tại
xã hội sẽ là một động lực thúc đẩy sự phát triển cả đời sống vật chất lẫn đời
sống tinh thần của con người. Dù lý luận, xét đến cùng, không thoát ly khỏi đời
sống vật chất, nhưng không thể phủ nhận vai trò định hướng, dẫn đường của nó
trong sự phát triển của xã hội. Trong khi nhấn mạnh mọi sự thay đổi xã hội phải
tuân theo quy luật khách quan của lịch sử, C.Mác vẫn luôn tin rằng, tri thức và
ý chí con người có thể thúc đẩy quá trình đó tiến nhanh hơn.
Hơn thế nữa,
C.Mác và Ph.Ăngghen còn đặc biệt nhấn mạnh: Ý thức, tư tưởng chỉ thể hiện sức
mạnh của nó thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Về vấn đề này, trong
tác phẩm Gia đình thần thánh (năm 1844), các ông khẳng định: “Tư tưởng căn bản không
thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con
người sử dụng lực lượng thực tiễn” [2, tr.181]. Điều đó có nghĩa là, chính hành
động thực tiễn của con người có ý thức mới có sức mạnh cải tạo hiện thực. Từ
đó, các ông cho rằng “không thể đập tan được mọi hình thái và sản phẩm của ý
thức bằng sự phê phán tinh thần, bằng việc quy chúng thành “tự ý thức” hay biến
chúng thành những “u hồn”, “bóng ma”, “tính kỳ quặc”, v.v. mà chỉ bằng việc lật
đổ một cách thực tiễn những quan hệ xã hội hiện thực đã sản sinh ra tất cả
những điều nhảm nhí duy tâm đó; rằng không phải sự phê phán mà cách mạng mới là
động lực của lịch sử, của tôn giáo, của triết học và của mọi lý luận khác” [3,
tr.54]. Nhấn mạnh tính tất yếu của việc cải tạo thế giới hiện thực, các ông còn
đả phá mạnh mẽ cái ảo tưởng thống trị cho rằng tư tưởng có tác dụng quyết định
trong tiến trình lịch sử. Điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn với việc khẳng định
vai trò, sức mạnh cải tạo của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
Sau này, trong
Lời tựa viết cho tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (năm 1858 - 1859),
C.Mác đã tự đánh giá những quan niệm duy vật về lịch sử, trong đó có quan điểm
về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội của ông trong giai đoạn đầu
như sau: “Những công việc nghiên cứu của tôi đã dẫn tôi đến kết quả là: Không
thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước,
hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải
thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ
và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất, mà toàn bộ đã
được Hêghen, theo cách của người Anh và người Pháp thế kỷ XVIII, gọi gộp chung
lại là “xã hội công dân” và việc giải phẫu xã hội công dân này thì phải tìm ở
trong khoa kinh tế chính trị” [5, tr.14]. Sự nhất quán, chuẩn xác trong quan
điểm duy vật đó về lịch sử đã đưa C.Mác đến kết luận về tính tất yếu lịch sử
của cuộc cách mạng vô sản và tạo ra cơ sở lý luận cho học thuyết về chủ nghĩa
cộng sản khoa học.
Tóm lại, trước
những yêu cầu bức thiết của cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm giữa thế
kỷ XIX và khẳng định lập trường duy vật trong việc nghiên cứu lịch sử xã hội, ở
các tác phẩm trong giai đoạn hình thành học thuyết của mình, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã phê phán quyết liệt những ảo tưởng về tính quyết định của ý thức,
tư tưởng đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Các ông đã tập
trung nhấn mạnh vai trò quyết định của tồn tại xã hội, của đời sống sản xuất vật
chất đối với ý thức xã hội cũng như tính tất yếu của việc cải tạo thế giới hiện
thực bằng sức mạnh vật chất, đồng thời cũng không xem nhẹ vai trò của ý thức,
tư tưởng trong tiến trình lịch sử. Những phân tích của các ông về vai trò quyết
định của tồn xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội mở ra một cách
nhìn mới trong việc nhận thức lịch sử trên tinh thần duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử là:
Thứ nhất, mọi
hiện tượng trong đời sống tinh thần, xét đến cùng, đều có nguồn gốc từ đời sống
vật chất, và do vậy, để nhận thức các hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội,
cần phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã nảy sinh ra nó. Mặt khác, cũng cần phải
giải thích các hiện tượng đó từ những phương diện khác nhau, nghĩa là, phải chú
ý đến tính độc lập tương đối của chúng, thấy được tính chất phức tạp trong sự
vận động của đời sống ý thức, tư tưởng. Cần tránh sa vào quan niệm cho rằng,
trình độ phát triển kinh tế thấp kém của xã hội sẽ dẫn đến sự yếu kém về lý
luận, hoặc tuyệt đối hóa sức mạnh của lý luận mà bất chấp điều kiện vật chất
hiện có. Cả hai khuynh hướng này đều dẫn đến hiểu và vận dụng sai lệch tư tưởng
biện chứng của chủ nghĩa Mác về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã
hội.
Thứ hai, để xây
dựng xã hội mới, cần phải tiến hành cải tạo cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức
xã hội, trong đó sự thay đổi tồn tại xã hội là căn bản để dẫn đến thay đổi ý
thức xã hội. Đồng thời, cần thấy rằng, không chỉ những biến đổi trong tồn tại
xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của
xã hội mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những
điều kiện nhất định, cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong
tồn tại xã hội.
Thứ ba, ý thức,
tư tưởng muốn phát huy vai trò của nó trong đời sống phải thông qua hoạt động
thực tiễn của con người. Do đó, ý thức, tư tưởng đúng đắn là chưa đủ, cần thực
sự nỗ lực chuyển hóa ý thức, tư tưởng thành sức mạnh vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn một cách khoa học.
Với những tác
động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đời sống kinh tế - xã hội
càng phát triển, giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càng tăng. Tất cả những điều
đó đang đưa đời sống tinh thần đến chỗ ngày càng phong phú hơn, cùng với đó
cũng xuất hiện nhiều xu hướng tâm lý, ý thức, tư tưởng phức tạp. Vì thế, đòi
hỏi phải có những nhận định khách quan, khoa học về sự biến đổi này để có những
định hướng phù hợp. Trong bối cảnh đó, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về mối
quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội cần phải được coi là
những chỉ dẫn phương pháp luận quan trọng, không thể thiếu trong việc định
hướng nhận thức và thực tiễn của con người để từ đó đưa ra những quyết sách
đúng đắn, phù hợp thúc đẩy sự phát triển xã hội theo chiều hướng khách quan của
lịch sử.
Tài liệu tham
khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập,
t.42, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] Phạm Văn Đức (2008), Quan niệm duy vật
lịch sử của C.Mác và ý nghĩa thời đại của nó, Tạp chí Triết học, số 6.
[8] Đặng Hữu Toàn (2006), “Hệ tư tưởng Đức”
– tác phẩm đánh dấu sự ra đời một thế giới quan mới, một quan niệm duy vật về
lịch sử, Tạp chí Triết học, số 1.
Tác giả: Đào Thị Minh Thảo - Tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam.