THỜI CƠ, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Tóm tắt: Bài viết khẳng định Cách mạng tháng Mười Nga
không chỉ mở ra một thời đại mới trong lịch sử xã hội loài người – thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mà còn dẫn đến sự sinh thành chủ
nghĩa xã hội hiện thực – chủ nghĩa xã hội trên thực tế, vận động và phát triển
trong đời sống xã hội nhân loại như một cơ thể sống. Đồng thời, trên cơ sở phân
tích và luận giải thời cơ, thách thức và triển vọng của chủ nghĩa xã hội hiện
thực sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, từ thực
tiễn thành công của công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa ở Việt Nam, Trung Quốc,
Cu Ba…, bài viết khẳng định, trong những thập niên tới, triển vọng của chủ
nghĩa xã hội hiện thực có thể diễn ra với nhiều tình huống khác nhau, song nhân
loại nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, bởi đó là quy luật tiến hóa của xã
hội loài người.
Từ khóa: Cách mạng tháng Mười Nga;
thời cơ, thách thức và triển vọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực.
1. Cách mạng tháng Mười Nga và sự sinh thành chủ nghĩa xã hội hiện thực
Cho đến nay, tròn một
thế kỷ - quãng thười gian trải dài từ cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XX đến
cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã đi
vào lịch sử nhân loại với tư cách một trong những cuộc cách mạng vĩ đại nhất –
cuộc cách mạng làm rung chuyển và đảo lộn trật tự thế giới. Cách mạng tháng
Mười Nga không chỉ mở ra một thời đại mới
trong lịch sử xã hội loài người – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội, mà còn dẫn đến sự sinh thành
chủ nghĩa xã hội hiện thực – chủ nghĩa xã hội trên thực tế, vận động và
phát triển trong đời sống xã hội nhân loại như một cơ thể sống.
Thật vậy, thắng lợi
của Cách mạng tháng Mười Nga không chỉ giải phóng giai cấp công nhân và nhân
dân lao động Nga thoát khỏi áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, của chế độ
Nga Sa hoàng, làm thay đổi hoàn toàn địa vị xã hội của họ, nâng họ lên hàng
những người chủ xã hội, mà còn thiết lập nên một xã hội hoàn toàn mới – xã hội
xã hội chủ nghĩa mà ở đó, chính quyền thuộc về những người lao động. Không chỉ
thế, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, khát vọng giải phóng con người
khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công của biết bao thế hệ, của các nhà tư tưởng
vĩ đại trong lịch sử nhân loại mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin là những người
vĩ đại nhất đã được thực hiện; sự công bằng và bình đẳng giữa người với người
được tạo ra; con người được sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc; các dân tộc
được sống trong hòa bình, trong tình hữu nghị. Và, nước Nga – một nước vốn kém
phát triển nhất trong số các nước tư bản châu Âu khi đó – chỉ trong vòng vài
thập niên, đã trở thành một cường quốc với chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau Cách
mạng tháng Mười, nước Nga xã hội chủ nghĩa đã trở thành thành trì vững chắc cho
phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, không chỉ trở thành lực lượng chủ
yếu nhất cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát xít, mà còn tạo
điều kiện và giúp đỡ cho một loạt nước ở Đông Âu, châu Á và sau đó là ở Mỹ
Latinh tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội,
hình thành nên chủ nghĩa xã hội hiện thực
với tư cách một hệ thống thế giới.
Chủ nghĩa xã hội hiện
thực với tư cách một hệ thống thế giới ra đời và phát triển dưới ánh sáng của
Cách mạng tháng Mười và sự giúp đỡ của nước Nga – thành trì vững chắc của chế
độ xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ sự hình thành hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu và châu Á sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có Việt Nam chúng
ta. Sau đó, vào năm 1959, cách mạng Cuba thành công, nhà nước xã hội chủ nghĩa
đầu tiên có mặt ở Tây bán cầu. Như vậy, từ năm 1950, chủ nghĩa xã hội hiện thực
đã thực sự hình thành với tư cách một hệ thống và kể từ đó, thế giới đã xuất
hiện hai hệ thống có chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau. Và, cũng từ đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đóng vai
trò quan trọng trong trật tự thế giới, đặc biệt là giai đoạn trước những
năm 70 của thế kỷ XX. Hệ thống này đã trở
thành chỗ dựa tin cậy của phong trào cách mạng thế giới, thành trung tâm
đoàn kết các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.
Đóng góp lớn lao này
của chủ nghĩa xã hội hiện thực với tư cách một hệ thống thế giới là điều không
thể phủ nhận. Không có sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội hiện thực với tư cách
một hệ thống, thế giới không thể có được một cục diện mới, cục diện tạo cơ hội
cho nhiều quốc gia giành được độc lập dân tộc, thực hiện bước quá độ lịch sử
lên chủ nghĩa xã hội. Thuận lợi khách quan này cho một cục diện thế giới đã
được thực tiễn xác nhận và khó có thể nói khác được, cho dù những biến động đầy
bi kịch diễn ra ở hai thập niên cuối thế kỷ XX có làm cho tiến trình lịch sử
thế giới chậm lại. Thực tiễn tình hình thế giới trong suốt thế kỷ XX đã đem lại
cơ sở hiện thực cho phép chúng ta khẳng định được sự tác động mạnh mẽ và ảnh
hưởng lớn lao của chủ nghĩa xã hội hiện thực đến toàn bộ tiến trình phát triển
của thế giới.
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống
chính trị - xã hội đối lập kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời, dẫu sao
cũng vẫn tạo ra một thời kỳ nguy hiểm cho hòa bình thế giới. Nhân loại đã phải
hơn một lần đứng trên miệng hố của chiến tranh hạt nhân. Liên Xô – thành trì
của chủ nghĩa xã hội hiện thực đã hoàn thành sứ mệnh vĩ đại của mình là giữ cân
bằng lực lượng, khống chế được tất cả các liên minh quân sự và căn cứ quân sự
của chủ nghĩa đế quốc ở châu Âu và châu Á, đảm bảo cho hòa bình dẫu là cục bộ
và sự ổn định dẫu là tương đối của nhân loại trong suốt chiều dài lịch sử hơn
nửa thế kỷ. Thời kỳ căng thẳng nhất của chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang
diễn ra từ năm 1947 đến năm 1970. Trong cục diện chung của thế đối đầu và chiến
tranh lạnh này, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến
tranh cục bộ lớn nhất và kéo dài nhất thế kỷ XX đã kết thúc, thắng lợi thuộc về
nhân dân Việt Nam. Cuba – nước xã hội chủ nghĩa ở Tây bán cầu vẫn đứng vững
trong vòng vây của Mỹ. Nhìn chung, chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn giữ được sự
ổn định, thế đứng trong đời sống chính trị - xã hội thế giới và tiếp tục phát
triển trong hòa bình.
Về phương diện kinh
tế, trong hơn 70 năm tồn tại và phát triển, chủ
nghĩa xã hội hiện thực đã giành được những thành tựu vang dội. Nhiều nước
xã hội chủ nghĩa đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều thập
niên, công cuộc công nghiệp hóa diễn ra với quy mô rộng lớn và tốc độ gia tăng
cao, sản lượng công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng công nghiệp
thế giới. Cho dù có không ít khiếm khuyết, song cơ chế quản lý theo kế hoạch
tập trung cũng đã giúp cho các nước xã hội chủ nghĩa không bị rơi vào tình
trạng khủng hoảng, hỗn loạn, thậm chí một số nước tư bản còn tiếp thu và sử
dụng những mặt tốt của cơ chế này.
Trên phương diện đời
sống xã hội, chủ nghĩa xã hội hiện thực
đã tạo ra một chế độ xã hội mới mà ở đó, nhân dân lao động có cuộc sống ổn
định, được hưởng nhiều phúc lợi xã hội, an sinh xã hội được đảm bảo, mọi người
dân đều được chăm sóc sức khỏe, được chăm lo giáo dục, có chế độ nghỉ dưỡng...,
cho dù mức độ chưa cao, nhưng so với thực lực của nền kinh tế, có thể coi những
đảm bảo đó là tối ưu, thậm chí còn được các nước gọi là “nhà nước phúc lợi xã
hội” coi là kinh nghiệm tốt cần học tập.
Không chỉ thế, chế độ
xã hội mới do chủ nghĩa xã hội hiện thực tạo ra còn khẳng định quyền làm chủ xã hội của nhân dân lao động, quyền tự quyết
và bình đẳng của các dân tộc. Với chế độ xã hội này, lần đầu tiên trong
lịch sử nhân loại, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa – nền dân chủ cho số đông, đảm
bảo lợi ích và quyền lực thực tế cho người lao động trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội, đặc biệt là trong kinh tế và chính trị - được xây dựng. Nền dân
chủ này đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy tính chủ động, năng lực
sáng tạo, tính tích cực của quần chúng nhân dân lao động, làm bộc lộ sức mạnh
và tài năng của họ trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Thêm nữa, sự tồn tại
và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực còn cho chúng ta thấy năng lực cầm quyền và khả năng lãnh đạo của
một chính đảng cách mạng – Đảng Cộng sản, mà đội tiên phong của nó là giai
cấp công nhân, giai cấp đại diện cho một phương thức sản xuất mới; và vai trò quản lý của một nhà nước kiểu mới,
nhà nước với cơ sở xã hội vững chắc của nó là khối liên minh công – nông – trí
thức với tư cách nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sự hiện diện của những
nhân tố đó trong sự tồn tại và phát triển hơn 70 năm của chủ nghĩa xã hội hiện
thực không chỉ được coi là những cái mới, những “mầm non mới nhú” của cuộc sống
như V.I.Lênin đã nói, mà còn được coi là cái đã trở thành thực tế, đã sinh
thành, vận động và phát triển trong đời sống xã hội nhân loại như một cơ thể
sống. Đó chính là chế độ xã hội chủ nghĩa, là xã hội xã hội chủ nghĩa. Mặc dù
đó chưa phải là chủ nghĩa xã hội đã phát triển đầy đủ, đã đạt đến sự hoàn
thiện, hoàn hảo ở trình độ điển hình, thành thục của nó, song đó vẫn là một chế
độ xã hội mà tính ưu việt của nó là điều không thể phủ nhận. Để đi đến sự hoàn
thiện, hoàn hảo, chủ nghĩa xã hội hiện thực còn phải trải qua một thời kỳ lịch
sử lâu dài để cải biến triệt để xã hội cũ và xây dựng thành công xã hội mới
trên mọi phương diện. Thời kỳ lịch sử ấy chính là thời kỳ quá độ mà chủ nghĩa xã hội tất yếu phải đi qua trong sự
phát triển của nó. Bước quá độ lịch sử này còn có thể dài hơn về phương diện
thời gian, phức tạp và khó khăn hơn về tính chất và quy mô của những nhiệm vụ
mà nó phải giải quyết như chúng ta từng quan niệm, nhất là ở những nước theo
phương thức “phát triển rút ngắn” – “quá độ gián tiếp” lên chủ nghĩa xã hội
không qua chế độ tư bản chủ nghĩa như Việt Nam chúng ta. Theo nghĩa đó, có thể
nói, chủ nghĩa xã hội hiện thực là một
chế độ xã hội mới chỉ đang trong quá trình trưởng thành, đang được xây dựng và
phát triển trên cơ sở của chính nó.
Sau hơn 70 năm tồn tại
và phát triển với tư cách một hệ thống thế giới, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã
không còn tồn tại và phát triển với tư cách đó sau sự đổ vỡ và sụp đổ của Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu thập niên cuối của thế kỷ XX.
Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải nhận diện đầu đủ những sai lầm, khiếm khuyết
mà chủ nghĩa xã hội hiện thực đã mắc phải do hoàn cảnh khách quan, cũng như do
những sai lầm chủ quan gây nên.
Những sai lầm đó trước
hết bắt nguồn từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn rút ngắn thời kỳ quá độ,
sớm hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên “xây dựng chủ
nghĩa xã hội phát triển” ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, hay để
thực hiện chiến lược “đại nhảy vọt” như ở Trung Quốc. Thất bại trong tính toán chủ quan đó đã để lại nhiều hậu quả nặng
nề cho các nước này. Cùng với sai lầm này còn là việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thậm chí cả
khi cơ chế này đã bộc lộ rõ những khiếm khuyết của nó. Với cơ chế này, hệ thống
các nước xã hội chủ nghĩa luôn tỏ rõ thái độ thành kiến với nền sản xuất hàng
hóa và cơ chế thị trường, do vậy đã triệt tiêu động lực phát triển, tạo nên
tình trạng “bình quân chủ nghĩa”, kìm hãm việc áp dụng những thành tựu của khoa
học và công nghệ, hạn chế cải tiến chất lượng hàng hóa, kìm hãm nâng cao năng
suất lao động mà V.I.Lênin coi là nhân tố quyết định đối với thắng lợi của
phương thức sản xuất mới.
Một thực tế khách quan là chủ nghĩa xã hội
hiện thực ra đời dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và sự trợ giúp của
nước Nga Xôviết, sau thắng lợi của các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng lại chủ yếu diễn ra ở các nước có trình độ phát triển tương đối thấp, thậm
chí rất thấp. Thực tế khách quan đó đã để lại dấu ấn không nhỏ trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước này, cộng với đó còn là những nguyên nhân
khác đã khiến cho các nước này đều đã ít nhiều lâm vào tình trạng khủng hoảng
về chính trị, xã hội, kinh tế và hơn thế nữa, một số nước lại chịu tác động
trực tiếp của chiến tranh cục bộ sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có
Việt Nam chúng ta. Chính thực tế khách quan này đã có ảnh hưởng lớn và quy định
trực tiếp không chỉ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc hệ
thống xã hội chủ nghĩa, mà cả sự vận động và phát triển của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế, cũng như sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ
nghĩa ở các nước thuộc thế giới thứ ba trong suốt thế kỷ XX.
Sự đổ vỡ và sụp đổ của
chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu còn do căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh, hành chính nảy sinh từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp mà vào những năm 80, đã đến mức nặng nề.
Hoạt động của các Đảng Cộng sản và Công nhân ở nhiều nước cũng đã bị hành chính
hóa đến mức xa rời quần chúng, làm cho quần chúng mất lòng tin. Khi xã hội có
biến động, các Đảng này không còn được quần chúng bảo vệ. Trong nội bộ các Đảng
này luôn tồn tại mâu thuẫn, đấu tranh giành quyền lực và tình trạng lạm dụng
quyền lực. Cộng với đó là sự xuất hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi hoặc sô vanh
nước lớn không chỉ làm cản trở sự hợp tác đúng ra phải rất chặt chẽ giữa các
nước xã hội chủ nghĩa, mà còn dẫn đến sự chia rẽ các nước, các dân tộc với
nhau, thậm chí đưa tới phân biệt, xung đột.
Những sai lầm, khiếm
khuyết đó và có thể còn do nhiều nguyên nhân khác nữa, cộng với những sai lầm
trong cải cách, cải tổ đã làm Liên Xô tan rã, chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông
Âu bị xóa bỏ, khiến cho chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào tình trạng thoái
trào đầy kịch tính. Mặc dù vậy, với tư cách một chế độ xã hội, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời, tồn
tại, phát triển và sẽ còn phát triển thông qua tổ chức xã hội, đổi mới để
không ngừng hoàn thiện nhằm khẳng định một cách đầy đủ nhất bản chất ưu việt
của nó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực cùng với Cách mạng tháng Mười Nga đã có lịch
sử tồn tại và phát triển tròn 100 năm. Chúng ta sẽ không thể hình dung được
diện mạo của thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỷ XXI, nếu không tính đến sự
hiện diện và vai trò của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Đó là một sự thật của thế
giới hiện đại ngày nay. Giờ đây, chủ nghĩa xã hội hiện thực dẫu đang ở giai
đoạn thoái trào, đang phải trải qua những thách thức lớn trong một cục diện thế
giới mới đầy biến động khó lường, song không vì thế mà không còn cơ hội để phục
hồi và phát triển, nếu biết tận dụng những thời cơ thuận lợi do chính cục diện
thế giới mới này tạo ra. Và, như Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, “chủ
nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ
khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước
phát triển mới” [1, tr.65].
2. Thời cơ và thách thức của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Trật tự thế giới mới sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
sụp đổ đã tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện
thực, khiến cho những mô hình liên kết liên quốc gia, liên dân tộc giữa các
nước xã hội chủ nghĩa mà trước đây, vốn được xây dựng một cách chủ quan, miễn
cưỡng, gò ép bị phá vỡ. Cộng với đó là sự
can thiệp thô bạo từ các nước tư bản
chủ nghĩa phương Tây phát triển vào nội bộ các nước thuộc hệ thống xã hội
chủ nghĩa trước đây đã làm cho phong trào cách mạng ở các nước này bị phân hóa,
mâu thuẫn nội bộ trở nên gay gắt. Đây là một
thách thức lớn đối với sự phục hồi và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện
thực. Nếu các nước này không biết tự kiềm chế, không đoàn kết, thống nhất
vì mục tiêu cùng phát triển thì các thế lực thù địch sẽ tiếp tục lợi dụng, kích
thích mâu thuẫn nội bộ và hận thù dân tộc, khiến cho khả năng phục hồi và phát
triển càng trở nên khó khăn, phức tạp. Tự mình, bản thân các nước này cần phải
hướng tới mục tiêu chung là xây dựng một trật tự thế giới mới mà ở đó, mọi quốc
gia, dân tộc đều có quyền làm chủ vận mệnh của mình, không chấp nhận và phải
loại bỏ mọi sự can thiệp, áp đặt của các thế lực bên ngoài vào công việc nội bộ
của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền. Trong bối cảnh này, cần phải cố gắng khôi phục sự ổn định về chính trị bên trong
và tạo điều kiện môi trường quốc tế thuận lợi cho việc xây dựng đất nước,
đồng thời thực hiện chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc, chống lại sự can thiệp,
áp đặt của các thế lực bên ngoài về con đường và mô hình phát triển không phù
hợp với điều kiện lịch sử của đất nước mình. Hơn nữa, cần phải vượt qua cuộc khủng hoảng về đường lối, nêu
cao tinh thần đoàn kết, ý chí thống nhất, hướng đến mục tiêu cùng phát
triển, phấn đấu cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ
xã hội.
Ngày nay, toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa
kinh tế đã trở thành xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia.
Xu thế này tạo điều kiện cho các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển
khác nhau cùng tồn tại và phát triển. Đó là cơ
hội thuận lợi cho sự phục hồi và phát triển của các nước thuộc hệ thống xã
hội chủ nghĩa trước đây, một khi các nước này tận dụng được thời cơ đó. Tuy
nhiên, xu thế này lại đang bị một số nước phát triển và tập đoàn kinh tế tư bản
xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có
mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc và
cũng vì lợi nhuận kinh tế tối đa của các tập đoàn kinh tế. Đây là một thách thức không nhỏ cho các nước
thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, khi các nước này đang cố gắng bảo vệ
quyền tự chọn con đường phát triển của mình, giành lại và bảo vệ độc lập, tự
chủ về kinh tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, dàn xếp sự khác nhau về lợi
ích để tăng cường hợp tác và liên kết kinh tế, đấu tranh cho một trật tự kinh
tế quốc tế mới công bằng, hợp lý và hợp pháp, nhất là khi mà nền kinh tế đất
nước còn ở trong tình trạng chậm hoặc kém phát triển. Thêm nữa, trong bối cảnh
toàn cầu hóa kinh tế, chủ trương xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ sẽ
không thể thực hiện được, nếu không có độc lập, tự chủ về chính trị và ngược
lại, chỉ có một nền kinh tế độc lập, tự chủ mới bảo đảm giữ vững độc lập, tự
chủ về chính trị, mới không bị lệ thuộc, bị lôi kéo, bị khống chế bởi các nước
tư bản phát triển, mới không chịu sức ép buộc phải thay đổi chế độ chính trị và
đi chệch khỏi con đường phát triển đã lựa chọn. Nói cách khác, độc lập, tự chủ
về kinh tế không chỉ là nền tảng cho độc lập, tự chủ về chính trị, mà còn là
giá đỡ để nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Nhưng, độc lập, tự chủ
về kinh tế không có nghĩa là khép kín, tự cung tự cấp, đóng cửa, không cần hội
nhập và chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nhằm tranh thủ
ngoại lực, phát huy nội lực và lợi thế so sánh của quốc gia mình, từng bước
phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh
của đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu
hóa, chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ,
thị trường và do vậy, còn tiềm năng phát triển. Song, dẫu có phát triển hơn nữa
thì về bản chất, nó vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công, vẫn không
thể khắc phục được những mâu thuẫn vốn có, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất
xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và
các nước đang phát triển. Đây là thời cơ thuận lợi, nhưng cũng là thách thức
không nhỏ cho chủ nghĩa xã hội hiện thực trong cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và
quyết định con đường phát triển của mình.
Hiện tại, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa vẫn chứa
đầy mâu thuẫn, trong đó có những mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu rộng. Càng bị
thao túng bởi chủ nghĩa tư bản tài chính và các tập đoàn tư bản độc quyền xuyên
quốc gia thì nền kinh tế thế giới càng dễ bị tổn thương, vượt khỏi tầm kiểm
soát, dễ tạo ra những khâu yếu có khả năng dẫn đến sự chấn động về mọi mặt và
sự phản ứng dây chuyền mà chủ nghĩa tư bản khó bề khống chế theo ý muốn. Bối
cảnh này được một số người lạc quan cho rằng, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa có
thể dẫn đến giai đoạn quá độ từ toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa sang toàn cầu hóa
xã hội chủ nghĩa, và họ dự báo giai đoạn này có thể sẽ diễn ra vào những năm 50
của thế kỷ XXI. Có thể coi đây là ý kiến cần tham khảo và tiếp tục nghiên cứu
thêm. Nhưng bài học cần rút ra ở đây với chủ nghĩa xã hội hiện thực là phải đề phòng tư duy chủ quan, phiến diện. Thời
kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội không thể là một thời kỳ
ngắn ngủi có thể tính bằng mấy thập niên được. Chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng
phát triển và bản thân nó cũng đang tự điều chỉnh để tiếp tục tồn tại lâu dài
và phát triển. Hơn nữa, với chừng ấy thập niên, những điều kiện cho chủ nghĩa
tư bản bị tiêu vong và chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi là quá ngắn. Tuy
nhiên, nếu nắm bắt được những tiền đề của chủ nghĩa xã hội được tạo ra ở giai
đoạn chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, chủ nghĩa xã hội hiện thực sẽ củng cố được
niềm tin giành thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Đó là một cơ hội mà chủ
nghĩa xã hội hiện thực cần nắm lấy. Sinh thời, V.I.Lênin đã khẳng định, trong
thời đại ngày nay, chủ nghĩa xã hội đang hiện ra trực tiếp và trên thực tiễn,
trong mỗi biện pháp quan trọng tạo thành một bước tiến trên cơ sở chủ nghĩa tư
bản hiện đại. Nghĩa là, một chế độ xã hội ra đời khi chính xã hội trước nó tạo
ra những tiền đề và điều kiện đầy đủ nhất.
Ngày nay, chủ nghĩa tư
bản toàn cầu hóa trong quá trình tạo ra những tiền đề cho chủ nghĩa xã hội thì
chính nó cũng mang lại những yếu tố tiêu cực, những mặt trái cho chủ nghĩa xã
hội trên mọi phương diện của đời sống xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực ý thức
xã hội và hệ tư tưởng. Nó làm cho không ít người mất niềm tin về chế độ xã hội
chủ nghĩa, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, dễ dàng tiếp nhận quan niệm giá trị tư bản
chủ nghĩa, mơ hồ và lạc hướng đối với giá trị xã hội chủ nghĩa, chạy theo lối
sống văn hóa phương Tây, xem nhẹ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Đây là
một thách thức không nhỏ mà toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa tư bản
toàn cầu hóa mang lại cho sự phục hồi và phát triển của chủ nghĩa xã hội thiện
thực.
Do vậy, để vượt qua
thách thức này, chủ nghĩa xã hội hiện thực cần phải tiến hành cuộc đấu tranh
cho chủ nghĩa xã hội. Trong sự gắn kết chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống toàn
cầu hóa tư bản chủ nghĩa, chống chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa và cùng với đó là
cuộc đấu tranh vì hòa bình và bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc, bảo vệ
quyền tự quyết trong lựa chọn con đường phát triển và xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ để lấy đó làm nền tảng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế và khu
vực. Tự tách khỏi khu vực và thế giới, chủ nghĩa xã hội hiện thực sẽ bị cô lập
trong một thế giới mà toàn cầu hóa đã trở thành xu thế khách quan, không thể
đảo ngược và hơn nữa, sẽ không thể phục hồi và phát triển. Trong bối cảnh toàn
cầu hóa, chỉ có trên cơ sở kết hợp độc
lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp phát huy nội lực, giữ vững độc lập,
tự chủ về kinh tế với mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hợp tác
kinh tế quốc tế, chủ nghĩa xã hội hiện thực mới có thể phục hồi và phát triển. Thắng
lợi của công cuộc đổi mới, cải cách, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
một số nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, trên cơ sở kiên định con
đường phát triển, kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác –
Lênin và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành đổi mới, cải cách toàn diện
phù hợp với thực tiễn, với những điều kiện lịch sử - cụ thể, tuy mới chỉ là
bước đầu, nhưng thắng lợi không thể phủ nhận đó đang góp phần quan trọng vào
việc khôi phục, giữ vững niềm tin của nhân loại tiến bộ vào sự phục hồi và phát
triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực - chủ nghĩa xã hội trên thực tế, vận động
và phát triển trong đời sống xã hội nhân loại như một cơ thể sống, một chế độ
xã hội mới tốt đẹp.
3. Triển vọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là biến cố chính trị lớn nhất, sâu
sắc nhất cuối thế kỷ XX. Đối với chủ nghĩa xã hội hiện thực trên phạm vi toàn
thế giới, đó là tổn thất nặng nề và nghiêm trọng nhất. Biến cố lịch sử này
không chỉ xóa bỏ chủ nghĩa xã hội với tư cách một hệ thống thế giới, mà còn đẩy
toàn bộ phong trào cách mạng thế giới từ cao trào sang thoái trào. Song, bước
lùi của chủ nghĩa xã hội hiện thực chỉ là tạm thời. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô, Đông Âu sụp đổ dẫu có là tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế
giới, song một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam,
vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những
thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển và cùng với đó, phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế đang có những bước phục hồi. “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định tiến tới chủ
nghĩa xã hội” [2, tr.69]. Sau thất bại của Công xã Pari (1871), C.Mác đã
đưa ra lời cảnh tỉnh trước nhân loại về thắng lợi tương lai của cách mạng thế
giới và chủ nghĩa xã hội bằng khẳng định rằng, cách mạng có thể bị thất bại,
nhưng cách mạng không bao giờ bị tiêu diệt, sự diệt vong không tránh khỏi của
chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đều là
những tất yếu như nhau.
Lời cảnh tỉnh mang
tính khẳng định của C.Mác khi chủ nghĩa xã hội hiện thực chưa sinh thành và sự
khẳng định mang tính dự báo của Đảng Cộng sản Việt Nam sau sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu và trước những thành công bước đầu
nhưng không thể phủ nhận của công cuộc cải tổ, đổi mới theo con đường xã hội
chủ nghĩa ở một số nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, cũng như trước
sự phục hồi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho chúng ta thấy,
theo quy luật phát triển của xã hội loài người thì sự ra đời và phát triển chủ
nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và trên thực tế, con đường và phương
thức xây dựng nó đã được trải nghiệm qua sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa
xã hội hiện thực trong thế kỷ XX và hiện vẫn đang là một hiện thực sinh động không
thể phủ nhận của thế giới ngày nay.
Sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu không chỉ là sự tan vỡ niềm hy
vọng, mà còn là sự rạn nứt niềm tin, sự biến mất của một chỗ dựa vững chắc và
một sự ủng hộ tưởng chừng như vĩnh hằng của nhân loại tiến bộ trên toàn thế
giới. Cùng với đó là sự đảo ngược của một quá trình phát triển tưởng chừng
không gì có thể xoay chuyển, đảo chiều hoặc ngăn cản mà chủ nghĩa xã hội hiện
thực, đứng đầu là Liên Xô với tư cách một siêu cường, đã tạo ra. Song, nếu lịch
sử nhân loại chỉ có thế thì đó đúng là một thứ lịch sử tuyến tính, ngay cả khi
gãy khúc cũng gãy khúc một cách thẳng tắp, giản đơn đến thành ra xuyên tạc.
Lịch sử nhân loại xưa nay vốn phức tạp và chưa bao giờ phát triển theo con
đường thẳng tắp. Nó là dòng chảy liên tục, nhiều chiều và không thuần nhất. Và,
trong sự phát triển biện chứng, trong quá trình vận động tiến lên từ thấp đến
cao, như Ph.Ăngghen đã khẳng định, lịch sử nhân loại sẽ có cả “những sự vận
động chữ chi” và “những bước lùi tạm thời”. Đó là quy luật của lịch sử nhân
loại. Sự sinh thành của chủ nghĩa xã hội hiện thực dưới ánh sáng soi đường của
Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại cũng theo quy luật đó của lịch sử nhân loại. Nó
không thể bị xóa bỏ khỏi lịch sử xã hội loài người như “một chặng đường tình
cờ”, hay “một tai nạn nhỏ dọc hành trình”. Giờ đây, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội hiện thực đang được các lực lượng cách mạng và nhân loại tiến bộ trên thế
giới nhìn nhận như sự xé toang một tấm màn bưng bít, sự hiện diện những nhận thức
mới không phải về lý tưởng, mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và
thực tế đời sống xã hội, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá
trình lọc bỏ và tái tạo, phục hồi và phát triển đầy hứa hẹn, không thiếu tiềm
năng và triển vọng tươi sáng. Đây là bài
học, là di sản lịch sử sáng giá nhất
mà chúng ta có thể rút ra để nhìn nhận
triển vọng của chủ nghĩa xã hội hiện thực sau sự sụp đổ của nó ở Liên Xô và
Đông Âu. Bài học, di sản lịch sử này cho phép chúng ta khẳng định V.I.Lênin đã
hoàn toàn đúng khi thừa nhận: “Ngày nay, chúng ta đều có quyền nói... toàn bộ
quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản” [3, tr.428].
Sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, như đã chỉ ra, là do nhiều nguyên
nhân, cả chủ quan lẫn khách quan; song, một trong những nguyên nhân rất căn bản
mà nhiều người thừa nhận là sự yếu kém của nền sản xuất xã hội. Nền kinh tế của
các nước xã hội chủ nghĩa mặc dù có tăng trưởng, thậm chí có thời kỳ tăng
trưởng rất cao, nhưng do vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nên tăng
trưởng không bền vững, dẫn đến trì trệ rồi khủng hoảng. Thực tế này đã buộc các
nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam, phải tiến hành công cuộc
đổi mới, cải cách, mà trước hết là đổi mới, cải cách trong lĩnh vực kinh tế,
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Công
cuộc đổi mới, cải cách này không chỉ diễn ra trong bối cảnh cải tổ ở Liên Xô và
Đông Âu đã thất bại, mà còn diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước hết là
toàn cầu hóa kinh tế, đã trở thành xu thế khách quan, còn chủ nghĩa tư bản
trong xu thế này đã trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa và do vậy, toàn cầu
hóa trở thành toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa. Đây là một sự thật không dễ chối
bỏ. Bởi vậy, những chính sách cải cách, đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa
còn lại đều hướng đến chỗ chuyển dần nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa, hoặc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội
nhập với sự phát triển chung của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa mà về thực
chất, là toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa. Đó là quá trình không thể khác được. Do
vậy, đối với các nước xã hội chủ nghĩa này, việc giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, góp phần khôi
phục và phát triển chủ nghĩa xã hội hiện thực là cả một cuộc đấu tranh cực kỳ
không đơn giản.
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và
Đông Âu đã làm cho chủ nghĩa xã hội hiện thực bị suy yếu và ảnh hưởng không tốt
đến cách mạng thế giới, đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Song, chủ nghĩa xã hội với tư cách giai đoạn thấp
của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa vẫn còn ở phía trước và
vì thế, đây vẫn là một xu hướng vận động
của xã hội loài người. Xu hướng vận động đến chủ nghĩa xã hội, đương nhiên,
khó tránh khỏi những bước thăng trầm, quanh co, thậm chí có thể có cả những
bước thụt lùi. Thêm nữa, chủ nghĩa tư bản trong thời đại toàn cầu hóa không
phải và không còn nguyên nghĩa như chủ nghĩa tư bản mà C.Mác đã khái quát trong
bộ Tư bản. Bản thân chủ nghĩa tư bản
đã có nhiều thay đổi, tự điều chỉnh, tận dụng được những thành tựu do cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ đem lại để gia tăng năng suất lao động và tăng
trưởng kinh tế. Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về
bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công; những mâu thuẫn cơ bản
vốn có của nó chẳng những chưa được giải quyết, mà còn ngày càng trở nên sâu
sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận
động của những mâu thuẫn nội tại này và cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ
toàn thế giới sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, điều
này không có nghĩa rằng, chủ nghĩa tư bản sẽ bị vượt qua trong một sớm một
chiều. Do vậy, cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự phục hồi của chủ nghĩa xã hội
hiện thực có thể xảy ra lúc nào và ở đâu là tùy thuộc vào điều kiện và những
tình huống cách mạng của các quốc gia cụ thể.
Ba
thập niên đã trôi qua kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và
Đông Âu. Quãng thời gian đó chưa hẳn đã là dài, song nó vẫn đủ để chúng ta có
thể nhìn nhận về triển vọng của chủ nghĩa
xã hội hiện thực. Trong những thập niên tới, triển vọng của chủ nghĩa xã
hội hiện thực có thể diễn ra với nhiều tình huống khác nhau. Song, như Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, nhân
loại nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, bởi đó là quy luật tiến hóa của
lịch sử xã hội loài người. Và, “cách mạng xã hội chủ nghĩa quốc tế” dẫu có
phải “trải qua những đột biến gian khổ đến mấy đi nữa” thì với tư cách là một
phong trào hiện thực, “cách mạng quốc tế tương lai sẽ xây dựng lên lâu đài xã
hội chủ nghĩa của mình” như V.I.Lênin đã dự báo.
[3]
V.I.Lênin (1978), Toàn tập, t.45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
Tác Tác giả: Đặng Hữu Toàn
Tac