MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG BẰNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tóm tắt: Công bằng kinh tế là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, là một tiền đề thúc đẩy kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững. Trong bài
viết này, một mặt, tác giả luận giải
một số quan điểm về công bằng xã hội và công bằng kinh tế, từ đó khẳng định,
các giá trị của công bằng kinh tế được thể hiện ở các nguyên tắc của nó; mặt khác, tác giả khẳng định qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước
tiến nhảy vọt trong tăng trưởng kinh tế, cùng với đó là những cải thiện căn bản
về tiến bộ và công bằng xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện
công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện nay còn một số vấn đề đặt ra cần được tiếp
tục nhận thức và giải quyết.
Từ khóa: Công bằng xã hội, công bằng kinh tế, công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện
nay.
1.
Vấn đề công bằng kinh tế
Từ góc độ công lý quốc tế và công bằng xã hội, Liên
Hợp Quốc luôn nhấn mạnh vấn đề công bằng xã hội. Theo quan điểm này, mặc dù trước đây đã có nhiều nhà triết học bàn đến
vấn đề công bằng, song công bằng xã hội lại là một quan niệm tương đối mới. Các
nhà triết học phương Đông hay phương Tây cổ trung đại, thậm chí cho đến cả thời
Khai sáng cũng chưa thấy được nhu cầu thừa nhận công bằng hay khắc phục những
bất công từ góc độ xã hội. Vấn đề công bằng xã hội nổi lên cùng với cách mạng
công nghiệp và học thuyết xã hội chủ nghĩa. “Nó (công bằng xã hội) xuất hiện
với tư cách biểu thị cho cuộc biểu tình chống lại sự khai thác tư bản chủ nghĩa
về lao động và với tư cách là tâm điểm của sự phát triển các biện pháp cải
thiện điều kiện sống của con người. Nó được sinh ra như một khẩu hiệu cách mạng
thể hiện những lý tưởng của sự tiến bộ và tình đoàn kết anh em. Sau cuộc cách
mạng làm rung chuyển châu Âu vào giữa thập niên 80, công bằng xã hội trở thành
lời kêu gọi tập hợp của các nhà tư tưởng và các nhà hoạt động chính trị tiến
bộ. Đáng chú ý là Proudhon đã đồng nhất công bằng với công bằng xã hội và công
bằng xã hội có liên quan đến nhân phẩm con người” [2, tr.11-12].
Vấn đề công bằng xã hội ngày
càng được làm rõ hơn khi có sự phân biệt giữa lĩnh vực xã hội và lĩnh vực kinh
tế, ngày càng gắn với công bằng kinh tế nói chung và công bằng phân phối nói
riêng [Xem: 2, tr.12]. Mặc dù thừa nhận cách hiểu và sự thực hiện công bằng xã
hội của mỗi quốc gia là không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ
thể, bối cảnh kinh tế chính trị, truyền thống văn hóa, tâm lý dân tộc,… song,
theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, công bằng xã hội có những chiều cạnh mang
tính phổ quát, có những tiêu chuẩn nhất định được thừa nhận bởi nhiều quốc gia,
các tổ chức quốc tế.
Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên
ngôn quốc tế về nhân quyền và Hiệp ước quốc tế về quyền con người đã nhấn
mạnh đến ba lĩnh vực then chốt của bình đẳng và tính công bằng, đó là bình đẳng
về quyền, về cơ hội và về điều kiện sống.
Thứ nhất, bình đẳng về quyền nhấn
mạnh đến quyền dân sự của các cá nhân; thứ
hai, bình đẳng về cơ hội nhấn mạnh đến quyền tiếp cận bình đẳng về kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội; thứ ba, bình
đẳng về điều kiện sống nhấn mạnh đến việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, tạo
đồng thuận chung trong xã hội.
Vậy, công bằng xã hội là gì, hay
nói cách khác, đặc trưng căn bản nhất của nó thể hiện ở đâu? Câu trả lời là
công bằng xã hội tương đương với công bằng phân phối. “Trong bối cảnh hiện nay,
công bằng xã hội mang ý nghĩa đặc trưng là công bằng phân phối. Các thuật ngữ
nhìn chung được hiểu là đồng nghĩa và có thể thay thế được cho nhau trong cả
lối nói thông thường lẫn trong ngôn ngữ về quan hệ quốc tế. Khái niệm công bằng
xã hội/ phân phối được nói đến trong các công trình lý luận học thuật và trong
nhiều văn bản pháp lý quốc tế (như Hiến chương và Tuyên ngôn quốc tế) có thể
chỉ nói đến nghĩa rộng của “công bằng” [2, tr.13]. Tuy
nhiên, việc đồng nhất công bằng xã hội với công bằng phân phối là đầy đủ hay
chưa thì vẫn còn tạo ra nhiều tranh luận.
Từ một góc độ khác, Diễn đàn phát triển xã hội quốc tế của Liên
Hợp Quốc nhận thức rằng, công bằng kinh tế chính là một hợp phần của công bằng
xã hội. Công bằng kinh tế ở đây được hiểu là các cơ hội việc làm tốt và phân
phối thu nhập công bằng cho hoạt động sản xuất của các cá nhân, vì vậy công
bằng kinh tế là một khía cạnh của công bằng xã hội.
Diễn đàn phát triển xã hội quốc
tế đã xác định 6 lĩnh vực chủ yếu của sự bất bình đẳng về phân phối hàng hóa,
cơ hội và quyền, đó là: 1) Bất bình đẳng về phân phối thu nhập; 2) bất bình
đẳng trong phân phối tài sản; 3) bất bình đẳng về phân phối cơ hội nghề nghiệp
và việc làm có thù lao; 4) bất bình đẳng về phân phối trong việc tiếp thu tri
thức; 5) bất bình đẳng trong việc phân phối các dịch vụ y tế, an sinh xã hội và
sự an toàn môi trường; 6) bất bình đẳng về cơ hội với sự tham dự mang tính công
dân và chính trị [Xem: 2, tr.17-19]. Theo quan điểm này, từ cách tiếp cận 3
lĩnh vực ưu tiên về bình đẳng/công bằng và 6 lĩnh vực bất bình đẳng, khái niệm
công bằng phân phối được hiểu với nghĩa rất rộng, bao quát toàn bộ các khía
cạnh phân phối trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi
trường. Đây là một khung tham khảo có giá trị khi tìm hiểu về mô hình công bằng
kinh tế.
Bên cạnh quan điểm của Liên Hợp Quốc,
các học giả thiên về tư tưởng Công giáo không ít lần nêu lên vấn đề công bằng
kinh tế. Một trong các tuyên ngôn về vấn đề này của Giáo hội Công giáo chính là
Lá thư mục vụ “Công bằng kinh tế cho mọi người” (Economic Justice for All)
của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1986 [Xem : 5]. Bức thư được
viết trong bối cảnh Ronald Reagan triển khai thực hiện các chính sách tự do của
chủ nghĩa tư bản tự do (Laissez - Faire Capitalism). Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ
đã coi chủ nghĩa tư bản tự do đi ngược lại với công bằng xã hội, tinh thần
tương trợ, chủ nghĩa cộng đồng.
William E.Murnion, giáo sư triết
học và tôn giáo của Ramapo College, Hoa Kỳ, đồng thời là người sáng lập
Philosophy Works, cho rằng, Lá thư
mục vụ này đã nêu lên các
nguyên tắc căn bản của công bằng xã hội, về bản chất không khác với tư tưởng xã hội chủ
nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Các
giám mục đã bày tỏ sự đối lập với tư tưởng của các nhà tư bản, khẳng định “sự
ưu tiên cho người nghèo”, phát triển
học thuyết công bằng xã hội với nguyên tắc nền tảng giống như tư tưởng của
C.Mác là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [Xem: 6, tr.847-857]. “Sự
ưu tiên cho người nghèo” là một trong những nội dung quan trọng nhất của học
thuyết xã hội Công giáo. Vấn đề ở đây là có sự phân biệt giữa công bằng
dựa trên đóng góp và công bằng dựa trên phân phối. “Hình thức của nguyên tắc công bằng bao gồm một mệnh đề trên nền tảng công
bằng đóng góp - nghĩa vụ của mỗi cá nhân đóng góp cho phúc lợi chung - tương
xứng với mệnh đề dựa trên công bằng phân phối - quyền mỗi cá nhân chia sẻ cái
lợi (và điều xấu) của xã hội. Sự bất đồng ý kiến về hai mệnh đề này nảy sinh:
Cái gì mới là bản chất nền tảng, công bằng đóng góp hay công bằng phân phối. Vì
vậy, sự khác biệt giữa những tư tưởng công bằng xã hội có thể được biểu thị
bằng sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những khái niệm khác nhau của chúng về cơ sở
của công bằng đóng góp và công bằng phân phối” [6, tr.848]. Quan niệm cơ sở của
phân phối là năng lực hay nhu cầu tác động đến việc phân định chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa tư bản.
Sự hài hòa giữa công bằng đóng
góp và công bằng phân phối sẽ tạo ra công bằng kinh tế, người lao động sẽ chủ
động tham gia vào đời sống kinh tế, độc lập, phát triển, thoát khỏi tha hóa và
trở nên tự do, giàu có, khắc phục được sự bất bình đẳng, bất công trong xã hội.
Đương nhiên, ở đây cũng cần nói thêm rằng, các giám mục không chủ trương thu
hẹp quyền sở hữu tư nhân, mà ngược lại, ủng hộ sự mở rộng quyền sở hữu tư nhân.
Đồng thời, họ cũng không chấp nhận lập trường của chủ nghĩa tư bản tự do, tương
tự chủ nghĩa Mác, họ xuất phát từ quan
điểm của người nghèo và những người bị áp bức để bàn về công bằng kinh tế. Vậy
công bằng trong kinh tế phải tuân theo những nguyên tắc nào? Edward J.O'Boyle
đã nêu ra 3 nguyên tắc của công bằng kinh tế, đó là nguyên tắc tương đương, nguyên tắc công bằng phân phối, và nguyên tắc công bằng đóng góp [Xem: 4, tr.43-60].
C.Mác cho rằng, xã hội loài
người phải có công bằng và xã hội tư bản là một xã hội không có công bằng,
trong đó “người công nhân sản xuất càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng
sản phẩm của anh ta càng tăng, thì anh ta càng nghèo. Người công nhân càng tạo
ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật
phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị.
Lao động không chỉ sản xuất ra hàng hóa mà thôi: Nó sản xuất ra bản thân nó và
sản xuất ra người công nhân với tính cách là hàng hóa, hơn nữa sản xuất
theo cùng một tỷ lệ theo đó nó sản xuất ra hàng hóa nói chung” [1, tr.128].
C.Mác đã đề cập đến công bằng kinh tế khi ông yêu cầu phải thực hiện công bằng
trong sản xuất, công bằng trong trao đổi và công bằng trong phân phối.
Các giá trị của công bằng kinh tế được thể hiện ở các nguyên tắc của nó,
đó là công bằng kinh tế: (1) Các bên
cùng có lợi: Tôn trọng, bảo vệ các tiền đề dân chủ, bình đẳng, có lợi của chủ
thể các hoạt động kinh tế, đồng thời yêu cầu các chủ thể này chia sẻ quyền lợi
một cách công bằng, bình đẳng, tuân thủ các nghĩa vụ và trách nhiệm để đạt tới
mục tiêu các bên đều có lợi; (2) Nguyên tắc trung thực: Trung thực phải trở
thành một nguyên tắc đạo đức cơ bản của xã hội để điều tiết các hành vi kinh tế
cho phù hợp với yêu cầu lợi ích của toàn xã hội; (3) Nguyên tắc bình đẳng: Bình
đẳng trong chế độ kinh tế xã hội và các pháp luật liên quan, bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế, v.v. ; (4) Nguyên tắc trình tự: Trong điều kiện kinh
tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế đều phải tuân theo các quy tắc, trình tự
nhất định. Điều này yêu cầu xây dựng một hệ thống pháp luật và các chính sách
làm nền tảng cho sự vận hành có trình tự của hoạt động kinh tế, từ sản xuất,
phân phối, trao đổi đến tiêu dùng, vừa để cho nền kinh tế có môi trường tự do
phát triển, vừa để nhà nước có thể quản lý, điều tiết cho nền kinh tế vận hành
tốt hơn; (5) Nguyên tắc sửa chữa: Phát hiện, sửa chữa, chỉnh đốn những hành vi
kinh tế xâm phạm hay đi ngược lại những nguyên tắc công bằng, đưa hoạt động
kinh tế quay lại với những giá trị công bằng. Ở đây, nhấn mạnh đến mối quan hệ
giữa nhà nước và thị trường. Xét từ góc độ đạo đức học, các nguyên tắc trên đáp
ứng hai yêu cầu đạo đức của công bằng kinh tế: (1) Đảm bảo quyền sống của con
người, đặc biệt là những quyền tự nhiên của con người; (2) Đảm bảo quyền tự do
của con người, đặc biệt là nhân phẩm con người.
2. Công bằng kinh tế ở Việt
Nam hiện nay
Ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới,
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tạo ra cơ chế công bằng theo hướng bình
quân, cào bằng, vừa không giúp kinh tế phát triển nhanh, vừa không giải quyết
tốt công bằng xã hội do nghèo đói và thiếu hụt điều kiện vật chất. Qua hơn 30
năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt trong tăng trưởng
kinh tế, cùng với đó là những cải thiện căn bản về tiến bộ và công bằng xã hội,
đặc biệt là việc thực hiện tốt mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo
cùng với những thành quả đáng ghi nhận về y tế và giáo dục.
Công bằng xã hội là nền tảng và bản chất của một xã hội tốt đẹp, là giá
trị nền tảng của mọi xã hội, đặc biệt là xã hội xã hội chủ nghĩa. Công bằng xã
hội là một chỉnh thể hữu cơ gồm 4 thành phần chủ yếu: (1) Bảo đảm những quyền
lợi cơ bản cho mọi cá nhân trong xã hội; (2) Bình đẳng về cơ hội; (3) Phân phối
theo cống hiến, (4) Điều tiết xã hội (tái phân phối xã hội).
Như trên đã trình bày, nhiều học giả và các
tổ chức quốc tế đề cập đến công bằng kinh tế với tư cách công bằng trong phân
phối, hay nói cách khác là công bằng
xã hội mang ý nghĩa đặc trưng là công bằng phân phối. Tuy nhiên, công bằng
kinh tế không chỉ là công bằng trong phân phối, mà nó còn phải được nhìn nhận dưới góc độ bình đẳng về cơ hội, bình đẳng
về nguyên tắc. Công bằng kinh tế phải được hiểu như một môi trường cho mọi người, mọi
thành phần kinh tế được tham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động kinh tế,
từ việc bình đẳng trước pháp luật, công bằng trong việc tiếp cận chính sách,
các nguồn vốn, tín dụng, đất đai,… Với cách hiểu này, trong điều kiện kinh tế
thị trường, nhà nước ngoài việc đóng vai trò sửa chữa khuyết tật của thị trường
bằng công cụ tái phân phối của cải, thì còn phải tạo ra môi trường công bằng
kinh tế làm tiền đề quan trọng để thực hiện công bằng xã hội. Công bằng kinh tế
là điều kiện tất yếu để kinh tế có thể phát triển nhanh và bền vững, là tiền đề
để tăng của cải xã hội, tăng phúc lợi cho mọi người, nâng cao đời sống nhân
dân. Ngược lại, nếu mọi người không có quyền công bằng và bình đẳng trong các
hoạt động kinh tế thì nền kinh tế đó sẽ không hiệu quả, tăng trưởng chậm, gây
lãng phí nguồn lực xã hội, nới rộng khoảng cách phát triển cũng như gây sức ép
cho tiến bộ và công bằng xã hội.
Định hướng phát triển của Việt
Nam là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tựu trung về mặt
kinh tế là phồn vinh, về mặt xã hội là công bằng và dân chủ. Nghĩa là, kinh tế
phải tăng trưởng và mọi người đều được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó(*).
Song, mọi người hưởng lợi từ sự tăng trưởng không chỉ là bị động, nhận lại sự
tái phân phối từ nhà nước hay doanh nghiệp, mà phải là chủ động, tham gia ngay
từ đầu, không chỉ trong quá trình gặt hái, mà còn phải cả trong quá trình gieo
cấy, công bằng trong mọi khâu và hưởng thụ sự công bằng đó.
Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng kinh tế,
nhiều vấn đề mới nảy sinh xung quanh việc giải quyết công bằng xã hội ở Việt
Nam hiện nay. Hệ số Gini phần nào thể
hiện phần nổi của tảng băng chìm. Hiện tượng bất công trong xã hội không chỉ có nguồn
gốc từ di sản lịch sử, cấu trúc xã hội, năng lực cá nhân, giới tính, địa vị xã
hội, ảnh hưởng chính trị hay cơ hội trong cuộc sống, mà còn xuất phát từ chính
sự không công bằng trong kinh tế. Những lợi ích kinh tế mang tính chất quyết
định đối với công bằng xã hội. Ngược lại, bất công bằng kinh tế là nguồn gốc của phân hóa và mâu thuẫn xã hội. Chính vì vậy, công bằng
kinh tế là một yếu tố quan trọng tác động đến việc thực hiện công bằng xã hội.
Nói cách khác, công bằng kinh tế
không chỉ là một hợp phần của công bằng xã hội, mà còn là một tiền đề quan
trọng để giải quyết công bằng xã hội.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định,
không hy sinh công bằng xã hội cho tăng trưởng kinh tế, mà đòi hỏi “thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy
vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.103].
Chính vì vậy, khi đề cập đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu
lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh tế - xã hội và phát huy vai trò làm
chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, Văn kiện đặt ra yêu cầu bức
thiết: “Nhà nước thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng, tổ chức thực hiện
pháp luật, chính sách, bảo đảm các loại thị trường ngày càng hoàn thiện và vận
hành thông suốt, cạnh tranh công bằng, bình đẳng và kiểm soát độc quyền kinh
doanh; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, cải thiện môi trường
đầu tư, kinh doanh” [3, tr.112]. Đồng thời, bảo đảm hài hòa hơn giữa tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi
trường.
Để thực hiện công bằng trong
kinh tế, Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo
pháp luật. Khuyến khích đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp kinh doanh. Có chính
sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp Việt Nam cả về số lượng và chất
lượng, thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh các lĩnh vực mà luật pháp
không cấm; xây dựng, thực thi đồng bộ, hiệu quả cơ chế hậu kiểm, tiếp tục hoàn
thiện pháp luật về cạnh tranh, tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà
nước và độc quyền doanh nghiệp, kiểm soát độc quyền kinh doanh” [3, tr.105].
Công bằng kinh tế là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế hiện nay. Nó là một tiền đề để kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững, ngược lại, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tạo ra các điều kiện nhằm thực hiện
công bằng kinh tế.
Trong
hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn trên phương diện thực hiện công bằng kinh tế. Chính điều này góp phần tạo
động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế nước ta có sự tăng trưởng khá cao và
ổn định trong thời gian dài. Tuy nhiên, việc thực hiện công bằng kinh tế
ở Việt Nam hiện nay còn một số vấn đề đặt ra cần được nhận thức và giải quyết.
Đó là, thứ nhất, vẫn còn hiện tượng bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực
sản xuất, như sản xuất tự phát, thiếu kế hoạch, quy hoạch dẫn đến những hậu quả
to lớn: Phá hoại hoặc làm lãng phí tài nguyên, cung vượt cầu. Những hiện tượng
tiêu cực, như nhóm lợi ích, sản xuất hàng giả, hàng nhái,… gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến công bằng kinh tế. Thứ hai, bất
công bằng kinh tế trong lĩnh vực phân phối thể hiện ở biên độ khoảng cách giàu
nghèo có xu hướng dãn rộng chênh lệch về thu nhập giữa các vùng miền, địa
phương, giữa các ngành nghề... Thứ ba,
bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực trao đổi. Trong trao đổi trên thị trường
lao động, mặc dù trong một số năm gần đây, thu nhập bình quân đầu người tăng
nhanh hơn tốc độ tăng tương ứng của GDP bình quân đầu người theo giá so sánh
trong cùng thời gian, song tỉ lệ tổng thu nhập của người lao động tính trên GDP
còn thấp, ngoài ra còn các vấn đề về địa vị, quyền lợi của người lao động.
Trong trao đổi hàng hóa, các hiện tượng chủ yếu là bất bình đẳng giữa các chủ
thể của hoạt động kinh tế gây ra những tác hại nhất định cho nguyên tắc vận
hành của kinh tế thị trường; bất bình đẳng và vấn đề an ninh quốc gia khi có
ngày càng nhiều các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Thứ tư, bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực tiêu dùng. Sự lãng phí
trong chi tiêu của các cơ quan
nhà nước sẽ xâm hại đến quyền lợi của nhân dân. Sự chênh lệch về tiêu dùng gây
hại cho quyền lợi của nhóm người yếu thế,…
Giải quyết một cách hiệu quả vấn đề công bằng kinh tế là một trong những
tiền đề quan trọng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, công bằng xã hội. Công bằng kinh
tế giúp mọi người chủ động tham gia các hoạt động kinh tế một cách bình đẳng,
góp phần đảm bảo quyền sống của con người, đặc biệt là những quyền lợi tự nhiên
của con người; đồng thời đảm bảo quyền tự do của con người, nhất là nhân phẩm
con người.
Tài liệu tham khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen
(1995), Toàn tập, t.42. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] Department Of Economic And Social Affairs (2006), Division For Social Policy And Development,
The International Forum for Social Development “Social Justice in an Open World
- The Role of the United Nations”, United Nations, New York.
[3] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
[4] Edward J. O'Boyle (2004), Principles
of Economic Justice: Marketplace and Workplace Applications, Forum for
Social Economics, September 2004, vol.34.
[5] United States Catholic Bishops (1986), Economic Justice for All: Pastoral Letter on Catholic Social Teaching
and the U.S. Economy, Washington, D.C.
[6] William E. Murnion (1989), The Ideology of Social Justice in Economic
Justice For All, Journal of Business Ethics, 8/1989.