CHỦ NGHĨA QUỐC GIA - DÂN TỘC THEO NHO GIÁO CỦA HOÀNG ĐẾ MINH MỆNH
Tóm tắt: Trong
bài viết này, tác giả đã giới thiệu những tư tưởng quốc gia - dân tộc theo Nho
giáo của Minh Mệnh, vị hoàng đế có công phát triển Việt Nam thành một quốc gia
Nho giáo hùng mạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra
một số điểm hạn chế trong quan điểm quốc gia - dân tộc của Minh Mệnh theo hệ
quy chiếu của chính lý luận về chủ nghĩa quốc gia - dân tộc.
Từ khóa: Quốc gia - dân tộc, chủ nghĩa
quốc gia - dân tộc, tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, Minh Mệnh.
Đã có một
thời, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo bị phê phán nặng nề trong
nghiên cứu lý luận hiện đại của Việt Nam. Theo đó, những vấn đề liên quan tới
chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của Minh Mệnh cũng không mấy được
chú ý nghiên cứu và đánh giá đúng với giá trị và ý nghĩa của nó đối với sự vận
động của quốc gia Đại Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX. Trên thực tế, chủ nghĩa
quốc gia - dân tộc Nho giáo của Minh Mệnh có tác động to lớn đến sự vận động
của quốc gia Đại Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX và những tư tưởng dân tộc chủ
nghĩa theo Nho giáo này đã góp phần phát triển Việt Nam thành một quốc gia Nho
giáo hùng mạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Có thể nói, cùng với rất nhiều loại
hình của chủ nghĩa dân tộc hiện đại đang nổi lên hiện nay, việc nghiên cứu lý
luận dân tộc chủ nghĩa của Việt Nam nói chung, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc
theo Nho giáo của Minh Mệnh nói riêng là cần thiết và có ý nghĩa học thuật.
Tư tưởng quốc
gia - dân tộc đã hình thành từ rất sớm trong tiến trình lịch sử Việt Nam, bởi
quốc gia do người Việt làm chủ đã được hình thành từ rất sớm trong thực tiễn
đoàn kết nhân dân liên tục đấu tranh chống ngoại xâm và khắc phục thiên tai để
tồn tại. Khi Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam, nó đã cấp thêm những nền
tảng lý luận để tư tưởng quốc gia dân tộc của Việt Nam được củng cố và phát
triển lên một trình độ nhận thức cao hơn. Tư tưởng quốc gia - dân tộc hàm chứa
nhiều khái niệm, như ý thức về nguồn gốc dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc,
quyền lợi chung, chủ quyền lãnh thổ, dân tộc độc lập tự chủ, sự trung thành và
bảo vệ quốc gia... Nhưng về cơ bản, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc Việt Nam nhấn
mạnh, đề cao việc nhận thức và chia sẻ vận mệnh quốc gia trong việc thực hiện
quyền lợi và nghĩa vụ chung của tất cả các tộc người sống trên lãnh thổ Việt
Nam, trên hết là chủ quyền lãnh thổ, quyền độc lập tự chủ trong mối quan hệ với
các quốc gia khác. Trong sự vận động lịch sử, tư tưởng quốc gia - dân tộc
thường được sử dụng để đoàn kết nhân dân, huy động các nguồn lực của quốc gia
phục vụ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, tư
tưởng dân tộc chủ nghĩa cũng được sử dụng để xây dựng, củng cố sự thống nhất
quốc gia trên các phương diện chính trị, văn hóa, xã hội; trong đó, quan trọng
nhất là tư tưởng bảo vệ tính chính danh, chính thống về quyền lực chính trị
trong cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát chính trị, từ đó kiểm soát mọi nguồn
lực ở Việt Nam.
Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Minh Mệnh chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,
bao hàm tất cả các nội dung trên và là đỉnh cao của chủ nghĩa quốc gia - dân
tộc Việt Nam thời phong kiến.
1. Tư tưởng chính danh vương quyền họ
Nguyễn thống trị quốc gia
Độc lập dân
tộc và toàn vẹn lãnh thổ là tiêu chí xuyên suốt và tối cao của chủ nghĩa quốc
gia - dân tộc Việt Nam. Tiêu chí này, qua lịch sử tiếp thu Nho giáo ngày càng
được củng cố về mặt lý luận. Với việc tiếp thu mô hình quản lý nhà nước Hán vào
xây dựng chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam và lý luận Nho giáo, ý
thức chủ quyền về lãnh thổ, quốc gia với đại diện hợp pháp là vị quân vương
ngày càng được nâng cao và củng cố, đặc biệt là trong tư tưởng quốc gia - dân
tộc của Minh Mệnh.
Nhà vua là
biểu trưng của dân tộc, được coi là người chủ sở hữu hợp pháp của quốc gia,
đồng thời phải gánh trách nhiệm tối cao về độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ
của dân tộc. Quan niệm Nho giáo về thiên mệnh, về bậc quân chủ, về tính hợp
thức thần thánh của mỗi quốc gia, dân tộc được Minh Mệnh tiếp thu để tuyên bố
tính hợp thức, khẳng định quyền chính danh là vị quân chủ quốc gia - dân tộc
của mình và
phát triển đất nước theo hai hướng. Hướng thứ nhất, tiếp tục quá trình phát
triển quyền lực về phương Nam mà các chúa Nguyễn đã khởi xướng từ thế kỷ XVII.
Hoàng đế Minh Mệnh, một mặt, thi hành chính sách củng cố các vùng lãnh thổ đã
chinh phục được; mặt khác, tiếp tục mở rộng ảnh hưởng của Việt Nam ra khu vực.
Lãnh thổ Việt Nam thời cuối đời Minh Mệnh, bao gồm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
hiện đại và một phần lãnh thổ Lào, Campuchia hiện nay (Trấn Ninh, Trấn Dinh,
Trấn Tây Thành). Quá trình này giúp củng cố vị thế và ảnh hưởng chính trị của
Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á, thỏa mãn ý chí bình thiên hạ và ý thức tự
ngã của vua Minh Mệnh, coi Việt Nam là trung tâm của khu vực. Hướng thứ hai,
ngoài mục tiêu ổn định xã hội, các chính sách kinh tế, văn hóa, quân sự của nhà
vua cũng nhằm tới mục tiêu phát triển xã hội. Minh Mệnh có một số động thái chủ
động học tập, ứng dụng kỹ thuật công nghiệp phương Tây trong một số lĩnh vực
sản xuất vũ khí và máy móc dân dụng như tàu chạy hơi bằng nước, máy nước, máy
cứu hỏa... Đặc biệt, kỹ thuật chế tạo vũ khí theo phương Tây, dưới thời Minh
Mệnh đã được chú trọng nhằm nâng cao tính năng sát thương và sức mạnh quân sự,
nhằm chuẩn bị lực lượng đối phó với các nguy cơ can thiệp vào nội vụ đất nước
đang ngày càng gia tăng từ phương Tây.
Hoàng đế Minh
Mệnh có nhận thức rất mãnh liệt về sứ mệnh củng cố sức mạnh dân tộc và vị thế
quốc gia trong khu vực. Ý thức về một quốc gia mạnh và độc lập, có đầy đủ chủ
quyền, thậm chí có uy lực chi phối nhiều quốc gia - dân tộc khác được thể hiện
bằng các tư tưởng và quyết sách đối ngoại rất rõ ràng của Hoàng đế Minh Mệnh
qua đường lối “phủ biên, nhu viễn” (phủ dụ, ràng buộc các nước láng giềng làm
phên dậu cho Việt Nam và mềm mỏng, giữ khoảng cách với các nước phương xa).
Việc Minh Mệnh thi hành đường lối này bằng công tác đối ngoại khôn khéo, kết
hợp với tiềm lực sức mạnh quân sự đã củng cố vị thế của quốc gia Đại Nam hùng
mạnh hàng đầu Đông Nam Á trong nửa đầu thế kỷ XIX.
Hoàng đế Minh
Mệnh đã khôn khéo giải quyết các mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa, với
các nước láng giềng gần và với các nước phương Tây từ xa tới. Trong quan hệ với
Trung Hoa, Minh Mệnh tiếp tục truyền thống “thần phục trên danh nghĩa, độc lập
thực sự”, thực hiện nghi thức cầu phong và triều cống nhà Thanh nhằm củng cố
tính chính danh quyền thống trị của nhà Nguyễn ở Việt Nam trong khu vực chịu
ảnh hưởng của Trung Hoa, giữ gìn hòa bình, yên ổn của quốc gia. Trong quan hệ
với các nước láng giềng Đông Nam Á, Minh Mệnh xây dựng chế độ phiên thuộc đối
với Lào, Campuchia và duy trì quan hệ bang giao bình đẳng với các nước Đông Nam
Á khác. Đối với các nước phương Tây, Minh Mệnh kiên quyết từ chối mọi đề nghị
thông thương, ngoại giao, không thiết lập quan hệ chính thức với bất cứ quốc
gia nào với mục đích ngăn ngừa sự can thiệp của các nước phương Tây vào Việt
Nam.
2. Tư tưởng thống nhất quốc gia - dân tộc
bằng bộ máy quản lý hành chính nhà nước
Để củng cố sự
nhất thống quốc gia của triều đại, quá trình tập trung quyền lực tuyệt đối vào
nhà vua được thực hiện vừa khôn khéo vừa kiên quyết. Nhà vua đã lấy mô hình
hành chính nhà nước triều Thanh làm khuôn mẫu thiết lập nền hành chính thống
nhất quản lý quốc gia. Với cuộc cải cách hành chính tiến hành trong những năm
1829 - 1831, Minh Mệnh đã hoàn thành quá trình tập trung hóa quyền lực của nhà
Nguyễn. Nhà vua đã tiến hành cải cách hành chính, xóa bỏ chế độ tổng trấn được
hình thành từ thời kỳ đầu lên trị vị của vua Gia Long và kéo dài tới năm 1829,
với hai vị Tổng trấn Bắc thành và Gia Định, có vị trí như hai phó vương. Lãnh
thổ Việt Nam được chia thành 31 tỉnh, thành do nhà vua trực tiếp quản lý, để
tập trung quyền hành tuyệt đối vào tay mình và củng cố sự thống nhất đất nước
về mặt hành chính. Bộ máy hành chính được hình thành qua cuộc cải cách của Minh
Mệnh về cơ bản đã được duy trì cho tới hết triều Nguyễn.
Những tư
tưởng trị nước theo Nho giáo đã được Minh Mệnh thể chế hóa vào bộ máy hành
chính. Cơ cấu triều đình gồm 6 bộ, về cơ bản không khác với triều đình thời Lê
và triều đình nhà Thanh. Ngoài ra, triều Nguyễn còn thành lập Cơ mật viện, Hàn
lâm viện và Nội các là ba cơ quan chính giúp việc nhà vua ra các quyết sách trị
nước. Hệ thống cấp bậc quan lại, trách nhiệm và chế độ đãi ngộ trong triều và
ngoài tỉnh của quan lại đã được Minh Mệnh xây dựng rất chi tiết và được quy
định nghiêm ngặt trong bộ quan chế của triều đình, góp phần vào việc củng cố
thuyết chính danh trong Nho giáo, nhằm ngăn chặn mọi ý đồ tiếm quyền, lạm quyền
của quan lại, củng cố tôn ti, trật tự trong bộ máy hành chính.
3. Tư tưởng thống nhất quốc gia - dân tộc
bằng ý thức hệ Nho giáo
Hoàng đế Minh
Mệnh đã tiếp tục củng cố lựa chọn của vua Gia Long, lấy Nho giáo làm hệ tư
tưởng độc tôn của quốc gia. Lựa chọn này đã chinh phục lòng dân, đặc biệt là
giới nho sĩ đã thấm nhuần Nho học cả ngàn năm văn hiến. Do đó, địa vị của kẻ sĩ
tiếp tục được củng cố qua lựa chọn khoa cử, trở thành tầng lớp quan liêu trụ
cột của triều đình, giúp nhà vua quản lý xã hội. Lựa chọn này cũng giúp Minh
Mệnh củng cố tính chính thống của triều đại một cách hữu hiệu nhất bằng lý luận
Nho giáo. Khi lấy Nho giáo làm nền tảng lý luận cho tính chính danh của triều
đại, Minh Mệnh tập trung vào các tư tưởng luận giải mối quan hệ giữa trời -
thiên tử - dân và đề cao những quan niệm Nho giáo phù hợp với mục đích chính
trị của mình, như tư tưởng “mệnh trời”, tư tưởng “thiên nhân tương dữ”, tư
tưởng “kính thiên”... Trên thực tế, Minh Mệnh đã cho làm sách Minh Mệnh chính
yếu, chỉ lựa chọn một số tư tưởng Nho giáo phù hợp với yêu cầu chính trị của
bản thân và xây dựng thành một luận thuyết trị nước riêng của triều đại mình.
Mỗi thiên trong cuốn sách Minh Mệnh chính yếu là một nguyên lý trị nước được
tổng kết, đúc rút từ thực tiễn trị nước cũng như là cụ thể hóa đường lối chính
trị lý tưởng theo Nho giáo mà Minh Mệnh tuân thủ. Sự sắp xếp các nguyên lý trị
đạo là theo trật tự tầm quan trọng và tính ưu tiên của các nguyên lý này trong
đạo trị nước, khởi đầu bằng nguyên tắc kính thiên, đến pháp tổ, đôn thân, thể
thần, cầu hiền, kiến quan, cần chánh, ái dân, trọng nông, sùng kiệm, lễ nhạc,
giáo hóa, chế binh, thận hình, tài chính thuế khóa, pháp độ, sùng văn, rộng
đường ngôn luận, cố phòng thủ, phủ biên, nhu viễn.
Lý luận trị
nước trong Minh Mệnh chính yếu tập trung vào tư tưởng mệnh trời, đề cao người ở
ngôi vị hoàng đế là người được trời trao mệnh trị vì dân chúng, thay trời trị
dân; vua là con trời, mọi đất đai và thần dân của một nước đều là của vua. Vị
thế chủ tể trần gian của nhà vua được thần thánh hóa qua thuyết mệnh trời và
phổ biến sâu rộng trong nhân dân. Đây là luận thuyết nhằm lý giải tính chính
đáng, hợp thức quyền thống trị Việt Nam của họ Nguyễn, góp phần đắc lực giúp
Minh Mệnh củng cố nhân tâm nhất thống về một mối. Vua Minh Mệnh trong các chiếu
chỉ của mình thường viện dẫn câu “trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân...” để
chứng minh cho tính chính đáng, đúng đắn, sáng suốt, tính khả thi của chiếu chỉ
ban ra: “Việc quân thì quý ở có danh nghĩa, mà đội quân ứng mệnh trời, thuận
lòng người thì trước phải đổi chính sóc... cứ chính đế vị, đổi niên hiệu, tỏ
bày đại nghĩa với thiên hạ, như thế thì được nước là chính đáng, không ai dị
nghị gì”.
Đặc biệt, tư tưởng trị nước của Minh Mệnh chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng
thiên nhân cảm ứng. Nguyên tắc kính thiên mang đầy màu sắc đạo đức thần bí được
Hoàng đế Minh Mệnh coi là nguyên tắc hàng đầu trong thực thi chính sự. Theo đó,
vua đối với trời như con đối với cha, phải luôn luôn lo lắng để thực hiện việc
chính sự cho đúng với ý trời, để giữ được thiên mệnh: “Trẫm từ khi lên ngôi đến
nay, lúc nào cũng nâm nấm, nem nép, chỉ sợ chưa hợp ý trời, nay hạn, dịch làm
tai, có phải đấng Thượng đế đã khiển trách ta không có đức vậy ư?”.
Minh Mệnh, một
mặt, lấy đức trị làm đường lối trị nước; mặt khác, dùng pháp trị làm phương
pháp cai trị. Cụ thể hóa đường lối đức trị, Minh Mệnh lấy nông nghiệp làm trọng
để dân yên bản nghiệp, hoàn thiện chế độ khoa cử, giáo dục để giáo hóa dân
chúng, đề cao đạo đức trung hiếu của Nho giáo, đề cao vương đạo trọng nghĩa hơn
lợi. Bên cạnh đó, bộ Hoàng Việt luật lệ soạn dưới thời Gia Long đã được Minh
Mệnh sửa lại hoàn chỉnh và áp dụng vào quản lý xã hội với phương châm pháp luật
phải nghiêm minh. Theo Minh Mệnh, luật là để: “Thưởng người có công răn kẻ có
tội. Một khi có tội không cứ vị quan lớn hay nhỏ đều phải theo pháp luật làm
việc”. Tư tưởng “ngoại Nho nội Pháp”, kết hợp đức trị và pháp trị trên cơ sở
của đức trị và hướng tới nền chính trị vương đạo của Minh Mệnh thể hiện rõ ở
chỗ ông coi “nhà nước định rõ luật hình, để giúp việc giáo dục”, “giáo hóa
trước rồi mới dùng hình phạt” và mục đích cuối cùng của luật pháp là để “cải
hóa kẻ phạm tội trở về chính đạo”.
Có thể nói,
Minh Mệnh đã xây dựng một đường lối quốc gia chủ nghĩa theo Nho giáo riêng của
Việt Nam với 21 nguyên lý lớn được trình bày theo hệ thống và tầm mức quan
trọng ưu tiên trước sau rõ ràng trong thi hành chính trị. Nguyên tắc kính thiên
thể hiện tính chính thống và chính đáng thống trị của vương triều. Nguyên tắc
pháp tổ thể hiện sự kế thừa tính chính thống và trọng đạo hiếu trong cai trị.
Các nguyên tắc tiếp theo là những chỉ dẫn thể hiện đường lối vương đạo trong
quan hệ giữa nhà vua với quần thần và dân chúng khi trị vì, cai quản các lĩnh
vực thiết yếu của xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục. Những nguyên lý cuối
là quan điểm an ninh, quốc phòng và ngoại giao. Như vậy, đường lối vương đạo
Nho giáo đã được cụ thể hóa thành hệ thống những nguyên tắc xây dựng và phát
triển quốc gia nhất quán và rõ ràng trong tư tưởng quốc gia - dân tộc của Minh
Mệnh.
4. Tư tưởng thống nhất quốc gia - dân tộc
về văn hóa - giáo dục
Trên phương
diện văn hóa, niềm tự hào về tính đặc sắc của văn hóa dân tộc là một yếu tố căn
bản nhất của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc Việt Nam và là một trong những động
lực và ý nghĩa căn bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập của quốc gia -
dân tộc. Minh Mệnh đã đưa nhận thức về giá trị văn hiến của quốc gia lên một
tầm mức mới, thậm chí mang tính cực đoan, dù về thực chất, nhận thức này chịu
ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Hoa hạ.
Minh Mệnh có
tư tưởng phân biệt các dân tộc, các vùng miền theo trình độ văn hiến rất rõ
ràng. Ông lấy các chuẩn mực văn hóa Nho giáo về chữ viết, lối sống, quy tắc ứng
xử, tôn giáo... làm thước đo. Theo quan niệm của nhà vua, có một ranh giới văn
hóa rất rõ ràng đã được xác lập giữa vùng trung ương và các vùng ngoại biên.
Theo đó, Minh Mệnh đặt ra các trục tương tác, quan hệ theo kiểu kết cấu hạt
nhân và vệ tinh trong quan hệ giữa triều Nguyễn với các nước láng giềng, giữa
trung tâm thống trị của triều đình nhà Nguyễn với các vùng nội thuộc của quốc
gia.
Tư tưởng của
Minh Mệnh về văn hóa, về mối quan hệ trung tâm - ngoại biên được xây dựng và
củng cố trên cơ sở quan niệm văn hóa Hoa hạ, thừa nhận tính ưu việt của nền văn
hóa Trung Hoa, coi đạo Nho là đạo thống, là chuẩn mực xác định phẩm chất văn
minh hay dã man của một quốc gia - dân tộc, một cộng đồng, một vùng, một nhóm
người. Từ nhận thức về quan hệ trung tâm - ngoại biên về văn hóa, Minh Mệnh
thừa nhận trật tự thế giới Nho giáo lấy Trung Quốc là trung tâm, đồng thời cũng
tự xác nhận vai trò trung tâm của triều Nguyễn trong trật tự các nước, các vùng
trên bán đảo Đông Dương. Tư tưởng về trung tâm và ngoại biên này đã tác động và
ảnh hưởng tới nhiều quyết sách và đường lối chính trị thực hành của Minh Mệnh,
đặc biệt là tư tưởng văn hóa lấy Nho giáo làm trung tâm, dùng Nho giáo để sửa
đổi phong tục, thống nhất văn hóa đất nước.
Tư tưởng tự
hào về những thành tựu văn hoá Nho giáo, về nhân tài và nền học thuật của đất
nước luôn sánh ngang Trung Hoa là một tư tưởng chi phối tư tưởng quốc gia - dân
tộc của Minh Mệnh. Việc ông bắt chước mô hình quản lý nhà nước Trung Hoa, bắt
chước chế độ giáo dục khoa cử, giáo hóa dân chúng theo các chuẩn mực văn hóa
Nho giáo là một nỗ lực thể hiện tư tưởng dân tộc chủ nghĩa văn hóa về tính
ngang bằng, bình đẳng của Việt Nam trước đế quốc Trung Hoa khổng lồ. Ngay cách
nhìn Hoa hạ đối với văn minh phương Tây của Minh Mệnh, coi phương Tây là dã
man, gọi người phương Tây là “Tây di” do họ không có chung các ý niệm và thành
tựu văn hóa phương Đông như Hà đồ, Lạc thư..., dù hết sức phi thực tế và không
tương thích, cũng thể hiện rõ tư tưởng quốc gia - dân tộc Nho giáo của Minh
Mệnh.
Tóm lại, với
tư tưởng quốc gia - dân tộc theo Nho giáo vừa cứng rắn vừa mềm dẻo, Minh Mệnh
đã góp phần xây dựng, củng cố vững chắc và hiệu quả một quốc gia Đại Nam thống
nhất và hùng mạnh suốt nửa đầu thế kỷ XIX. Ông đã dùng Nho giáo để củng cố uy
quyền của triều đại, mở mang lãnh thổ quốc gia, thống nhất nền hành chính quốc
gia và sửa đổi phong tục, thống nhất văn hóa đất nước. Những nỗ lực của Minh
Mệnh trong việc đề cao học thuyết chính trị - đạo đức Nho học, coi đó là trụ
cột tư tưởng xây dựng và bảo vệ quyền lực triều Nguyễn và khôi phục, phát triển
đất nước đã đạt được những kết quả đáng kể trong nửa đầu thế kỷ XIX. Quốc gia
do Hoàng đế Minh Mệnh cai trị theo tư tưởng quốc gia - dân tộc Nho giáo đã trở
thành một quốc gia hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á vào giữa thế kỷ XIX.
Tuy nhiên,
bên cạnh những thành tựu mà chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của Minh
Mệnh đã góp phần tạo dựng cho đất nước thì việc độc tôn Nho giáo với mục đích
củng cố chính quyền nhà Nguyễn và khôi phục, ổn định đời sống nhân dân, cũng
dẫn tới một trong những hệ quả nghiêm trọng của nó là sự từ chối tiếp nhận ảnh
hưởng của văn hóa phương Tây. Do đó, Minh Mệnh đã bỏ qua cơ hội tiếp thu và ứng
dụng những thành tựu tri thức khoa học - kỹ thuật và văn hóa thế giới vào phát
triển đất nước. Đồng thời, việc độc tôn Nho giáo, phủ nhận các tôn giáo khác
trong tư tưởng dân tộc chủ nghĩa văn hóa của Minh Mệnh cũng tiềm ẩn nhiều nguy
cơ bất ổn trong một quốc gia đa tộc người, đa văn hóa là Việt Nam. Nhất là,
trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản thế giới phát triển mạnh mẽ và chuyển sang giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa thì những bất ổn tiềm ẩn trong văn hóa, tôn giáo đó rất
dễ trở thành những nhân tố gây bất ổn cho chính trị và nguy hiểm cho số phận
dân tộc khi bị tác động cộng hưởng của các yếu tố bên ngoài.
Có thể thấy,
từ việc xem xét và đánh giá chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của
Hoàng đế Minh Mệnh, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học có ý nghĩa về định
hướng phát triển quốc gia - dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng
khoa học công nghệ hiện nay.
Tác giả: PGS. TS. Lê Thị Lan - Viện
Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
“Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
Cương giới rõ ràng đã ghi trong sách
trời”. Dẫn theo: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (t.II), Văn học thế kỷ X-XVII”, Nxb
Văn học, Hà Nội, 1976, tr.57-58.