Tóm tắt: Trong
bài viết, tác giả luận giải sự hình thành nhân cách kẻ sĩ của nhà cách mạng
Phan Bội Châu, chứng minh các phẩm chất kẻ sĩ ưu việt chính là nền tảng hình
thành chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu và đó cũng chính là nguồn sức mạnh nội
lực thu hút, tập hợp sự ủng hộ, tham gia của đồng chí, đồng bào vào phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc do ông lãnh đạo trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XX. Chính bài học
tư tưởng về việc không ngừng tu dưỡng, giữ gìn, trau dồi các phẩm hạnh kẻ sĩ, vượt
qua mọi gian khó, hiểm nguy trên con đường vận động cách mạng, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc của Phan Bội Châu là một trong những bài học nhằm phát huy
sức mạnh nội lực của dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước hiện
nay.
Từ khóa: Kẻ sĩ, giáo dục Nho học, Phan Bội
Châu, chủ nghĩa yêu nước.
Phan Bội Châu - một trong những bậc chí sĩ yêu nước tiêu biểu
nhất góp phần xây dựng nên chủ nghĩa yêu nước đặc sắc của dân tộc Việt Nam những
thập kỷ đầu thế kỷ XX đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi là “bậc anh hùng, vị
thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn
sùng” [4, tr.185]. Chủ nghĩa yêu nước đặc sắc của ông đến nay vẫn có sức lan tỏa
và truyền cảm hứng mãnh liệt tới các tầng lớp nhân dân Việt Nam trong công cuộc
bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện về chủ nghĩa
yêu nước của Phan Bội Châu không những giúp chúng ta nhận thức được những giá
trị tư tưởng và tầm ảnh hưởng chính trị - xã hội to lớn đối với dân tộc và thời
đại của ông, mà còn góp phần truyền bá, giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam -
sức mạnh vô địch của dân tộc cho giới trẻ hiện nay.
Chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu gồm ba thành tố: Tình
yêu Tổ quốc mãnh liệt, tư tưởng dân tộc chủ nghĩa kiên định và sự nghiệp đấu
tranh kiên cường, không ngừng nghỉ vì độc lập dân tộc.
Trong bài viết này, qua cách tiếp cận nội tại, tự sự của
chính Phan Bội Châu trong các tác phẩm tự truyện của ông, như Ngục trung thư, Lời tự phán, Phan Bội Châu
niên biểu,... được ông coi như di ngôn, đúc kết kinh nghiệm cả đời bôn ba
hoạt động cách mạng của mình, ta có thể làm sáng tỏ thêm một nền tảng quan trọng
cho sự hình thành chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu - là nhân cách kẻ sĩ của
ông.
1. Nền giáo dục Nho học đã xây dựng nên nhân cách kẻ sĩ Phan Bội Châu
Nho học trước hết là một học thuyết giáo dục có đường lối hết
sức rõ ràng về mục đích, nội dung, phương pháp và đối tượng giáo dục nhằm đào tạo
nên những con người giác ngộ đạo Nhân
Nghĩa của thánh hiền, nguyện cả đời tu rèn đạo đức kẻ sĩ và thực hiện lý tưởng
xã hội vua sáng tôi hiền, xã hội thái bình, thịnh trị của Nho gia. Trong gần
1000 năm được nhà nước phong kiến Việt Nam sử dụng làm trụ cột cho nền giáo dục
và học thuật chính thống, Nho học đã đáp ứng những yêu cầu mà các nhà nước
phong kiến kỳ vọng vào nền giáo dục này. Theo đó, tầng lớp kẻ sĩ, quân tử - những
trí thức Nho học, giác ngộ lý tưởng xã hội của đạo Nho, theo con đường tu, tề, trị, bình để hành đạo, tự ý thức
về trọng trách giúp vua trị nước làm sáng cái đức lớn của Trời - Đất qua khoa cử
sẽ trở thành tầng lớp quan lại quản lý xã hội.
Nền giáo dục Nho học đã bộc
lộ một số bất cập trong suốt lịch sử lâu dài tồn tại và phát triển của nó so với
sự vận động và phát triển của xã hội, mà nhiều khi, những bất cập này không xuất
phát từ bản thân nội tại tôn chỉ của giáo dục Nho học, mà từ chính chủ thể sử dụng
nó khi quá sùng bái và độc tôn nền giáo dục này. Tuy nhiên, một điều không thể
phủ nhận, đó là thành tựu của Nho giáo trong xây dựng nhân cách kẻ sĩ - mẫu người
lý tưởng (về chính trị và đạo đức) để thực hiện Đạo. Đây chính là một trong những thành quả nổi bật nhất và căn bản
nhất, có tính giáo dục đặc trưng nhất của Nho giáo. Chính vì vậy, nghiên cứu thời
đại của Phan Bội Châu nói riêng, toàn bộ thời kỳ phong kiến Việt Nam độc lập
nói chung chúng ta dễ dàng nhận thấy mẫu hình con người lý tưởng của Nho giáo với
nhân cách chính trị đạo đức lớn “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy
vũ bất năng khuất” - những nhân cách được nể trọng bởi cả tài năng và đức độ của
họ, đã góp phần làm nên một Việt Nam văn hiến, với bề dày lịch sử và chiều sâu
văn hóa.
Sự hình thành nhân cách kẻ sĩ của Phan Bội Châu được bắt đầu
ngay từ thuở bé, trong cái nôi giáo dục của gia đình hàn nho theo nền nếp Nho
gia: “Khi tôi còn bé, mẹ tôi đã dỗ tôi, nửa câu nói cũng không cẩu suất” (cẩu
thả, sơ suất) [1, tr.110]. Lên 7 tuổi, ông đã đọc các Kinh, Truyện là những sách kinh điển trong Nho học dành cho những
người dùi mài kinh sử phục vụ khoa cử. Thậm chí, ông đã nhái quyển Luận ngữ làm bản Phan tiên sinh Luận ngữ. Những lời dạy trong Luận ngữ về chí khí và trách nhiệm với nước, với dân của kẻ sĩ: “Sĩ
bất khả dĩ bất hoằng nghị. Nhậm trọng nhi đạo viễn. Nhân dĩ vi kỷ nhậm, bất diệc
trọng hồ? Tử nhi hậu dĩ, bất diệc viễn hồ?” (Kẻ sĩ cần phải có chí khí rộng lớn
và cương nghị. Là vì, gánh thì nặng mà đường thì xa. Đức nhân là cái trách nhiệm
mà mình phải gánh lấy, há không nặng sao? Đã làm điều nhân thì mình phải làm
cho đến chết mới thôi, như vậy con đường chẳng phải là xa sao?) [2, tr.124-125]
chính là những đạo lý về lẽ sống của người quân tử đã ngấm vào trái tim và khối
óc của Phan Bội Châu ngay từ thủa ấu thơ và trở thành kim chỉ nam hình thành
nên nhân cách kẻ sĩ của ông. Phan Bội Châu, ra đời khi 6 tỉnh Nam kỳ đã rơi vào
tay đế quốc Pháp và lớn lên trong bối cảnh đất nước dần dần rơi vào tay giặc,
các văn thân, hào kiệt ngay trên quê hương và trên khắp đất nước hừng hực khí
thế yêu nước, nổi dậy khởi nghĩa “Bình tây”, tham gia phong trào Cần Vương... Với
tinh thần trách nhiệm của kẻ sĩ, Phan Bội Châu xác định sứ mệnh thành nhân tựu nghĩa của mình chính là
tiếp bước các bậc chí sĩ nêu gương đại nghĩa cứu nước, cứu nhà như Trương Công Định,
Nguyễn Tri Phương: “Ngay từ hồi còn là thằng trẻ con đọc sách của ông cha để lại,
mỗi khi đọc tới chuyện người xưa hăng hái thành nhân tựu nghĩa, tôi thường nhỏ
nước mắt ròng ròng” [1, tr.16].
Ông đã đem sở kiến của mình ra làm sở hành, hưởng ứng phong trào Cần Vương,
lập “Sĩ tử Cần Vương đội” với hơn một trăm người. Tuy nhanh chóng bị quân Pháp đánh
dẹp do thiếu vũ khí, lương thực, nhưng đây chính là sự kiện đánh dấu sự lựa chọn
dứt khoát con đường “mưu toan cứu quốc” lâu dài, bền bỉ của Phan Bội Châu. Từ đó,
ông dành toàn tâm, toàn ý đời mình vào con đường vận động cách mạng cứu nước.
Như vậy, nền giáo dục Nho học là một yếu tố cực kỳ quan trọng cùng với truyền
thống quê hương và tấm gương xả thân vì nước của các bậc anh hùng dân tộc đương
thời đã tôi rèn nên nhân cách kẻ sĩ Phan Bội Châu.
2. Sự rèn luyện phẩm chất kẻ sĩ của Phan Bội Châu trong thực tiễn hoạt
động gây dựng phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu vừa là quá
trình tu rèn những phẩm chất kẻ sĩ đích thực vừa là quá trình hiện thực hóa những
phẩm chất ấy - phẩm chất làm nên sức mạnh chinh phục hàng triệu trái tim đồng
bào hướng về ông.
Hành trang cuộc đời Phan Bội Châu cho thấy, ông là người
thành tựu những phẩm chất căn cốt nhất của kẻ sĩ, đó là những phẩm chất được
nêu rõ trong Luận ngữ, được coi như hệ
chuẩn phân biệt với những tầng lớp khác, và đã được nhập tâm trong ông từ thuở
nhỏ, đó là:
-
Kẻ sĩ là người học Đạo, đọc sách Thánh hiền,
trong mọi cử chỉ, hành động của mình phải biết sỉ hổ để tránh những việc trái lễ
nghĩa, không được làm nhục mệnh vua.
-
Kẻ sĩ là người được họ hàng, làng xóm khen là hiếu
đễ.
-
Kẻ sĩ là người nói ra thì giữ lời, làm việc thì
quả quyết.
-
Kẻ sĩ là người có chí cao thượng, không bỏ dở việc,
có khí tiết trong sạch, không hợp nghĩa thì không làm [1, tr.209].
Những phẩm chất ấy được
ông giữ gìn, trau dồi trong suốt cuộc đời mình và lan tỏa trong những trang viết
hết sức khiêm nhường nhưng đầy trí tuệ của Ngục
trung thư, Phan Bội Châu niên biểu...,
khi ông tổng kết lại những thành công và thất bại của bản thân làm bài học kinh
nghiệm cho những người đi sau trên con đường cứu nước gian truân, khổ ải, nhưng
vinh quang và cao cả vì nghĩa lớn của dân tộc.
Phan Bội Châu coi cái học của kẻ sĩ phải vì đạo nghĩa. Ông sáng
suốt trong việc học và hành Nho học. Ngay từ rất trẻ, dù xuất thân Nho nghiệp,
với tư chất thông tuệ, ông đã nhận ra những mối tệ của khoa cử không phải là lỗi
của Hán học mà bởi chính sự ngu muội của người sử dụng “khoa cử hư văn ngày xưa
quyết không phải tội của Hán học, mà nô lệ liệt văn (văn chương nô lệ) ngày này
cũng quyết không phải tội ở Tây học, mà hoàn cảnh tối tăm đã chôn sống không biết
bao nhiêu là thiếu niên thông minh” [1, tr.112]. Tư duy phê phán này đã giúp
ông nhận thức rõ chính mối tệ khoa cử nhằm mục đích vinh thân phì gia, xa rời đạo
nghĩa là nguyên nhân làm yếu hèn dân tộc. Vì thế, Phan Bội Châu đã kịch liệt
bài bác tâm lý bắt chước Trung Hoa, kiên trì con đường tiến thân theo khoa cử:
“...Người nước mình bắt bóng theo chân, chỉ sợ không giống y người Tàu... không
thể nào không mượn con đường khoa cử, dẫu ai có muốn theo thời đi nữa, cũng
không có con đường học nào khác” [1, tr.15]. Ông chỉ mong sớm được làm việc nghĩa
theo gương các anh hùng nghĩa sĩ trong Nam, ngoài Bắc chứ không đặt chí vào con
đường khoa cử.
Tuy nhiên, qua những
thất bại buổi đầu vận động cách mạng, Phan Bội Châu đã nhận thức được tầm quan
trọng của việc xây dựng danh vị qua khoa cử để chinh phục nhân tâm. Thuyết
chính danh của Nho giáo đã xây dựng nên một quy tắc vững chắc trong xã hội
phong kiến, được các triều đại theo Nho giáo và dân chúng tuân thủ. Đó là kẻ sĩ
phải chinh phục triều đình và dân chúng bằng trí tuệ hơn người được khẳng định
qua đỗ đạt khoa cử. Ông nhận thấy, muốn làm việc lớn, kẻ sĩ phải được thừa nhận
bằng danh vị khoa cử, nhờ cái danh đó mới có thể gây thanh thế, uy tín trong giới
trí thức Nho học, từ đó thu hút được sự ủng hộ của họ, từ đó tập hợp được sự ủng
hộ của dân chúng: “Tuy nhiên, tôi lúc ấy được một phen giáo huấn to, mới biết rằng:
hễ muốn làm anh hùng tất phải tiềm dưỡng cho thật lâu, muốn gánh việc lớn tất
phải chứa mưu cho thật nhiều” [1, tr.113]. Vì vậy, năm 1900, khi đỗ đầu kỳ thi
Hương Nghệ An, đoạt danh vị Giải nguyên, ông đã yên tâm “có được một cái mặt nạ
để mượn đó mà che lấy mắt đời. Tháng Chín năm ấy, cha tôi vừa bảy tuần mà mệnh
chung. Gánh nặng ở gia đình mới nhẹ bỗng ở trên hai vai. Lúc đó mới là lúc tôi
bắt tay vào những kế hoạch cách mạng” [1, tr.120]. Tự sự này cho chúng ta thấy,
Phan Bội Châu là người cực kỳ thông minh và là người thực học. Ông hiểu rất rõ đặc
tính tâm lý - tư tưởng trọng danh, trọng đức của dân tộc và chủ động lấy đó làm
phương tiện gây dựng uy tín cá nhân để phục vụ cho hoạt động cách mạng.
Phan Bội Châu tu rèn ý chí kiên cường, tư duy linh hoạt, làm việc quyết
đoán và thủy chung như nhất vì nghĩa lớn cứu nước. Song song với việc lập
chính danh qua khoa cử, trên bước đường lập chí, Phan Bội Châu đã không ngừng kết
giao, mở rộng quan hệ với các chí sĩ, đồng chí đồng lòng cứu nước: “Song tôi có
bẩm chất cang cường, biết nghĩa liêm sỉ, không chịu theo đuôi làm tớ người
ta... tôi kết giao họp đảng bao nhiêu lâu, thành ra ở trong xã hội hơi có tiếng
tăm hơn trước, thiết nghĩ lúc này chính mình không tự ra tay làm việc, liệu còn
chờ ai” [1, tr.18]. Ông tự nhận là người mạo hiểm và kiên định theo một tư tưởng
(cứu nước), dù muôn ngàn khó, cũng cứ quyết tâm thực hiện; giao tiếp với người
khác luôn giữ chữ tín, ơn nghĩa dù chỉ nửa câu nói, chút việc lành cũng trọn đời
không quên và cả đời theo đuổi mục đích cuối cùng (độc lập cho dân tộc), không
nệ vào phương châm, thủ đoạn [Xem: 1, tr.108].
Có thể thấy, phương
châm hành động của nhà Nho “dĩ bất biến ứng vạn biến” được ông sử dụng triệt để
trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Từ việc lập đội Sĩ tử Cần Vương, mưu
hãm tỉnh thành Nghệ An, tới việc lập Việt Nam Quang phục hội với việc tôn hoàng
thân Cường Để (dòng đích của vua Gia Long) làm minh chủ, viết văn thơ tuyên
truyền, thức tỉnh, cổ vũ lòng yêu nước; cổ vũ Duy Tân (khai dân trí, chấn dân
khí, thực nhân tài) cho quốc dân, kết giao với các lực lượng yêu nước, cách mạng
khác trong nước và ngoài nước; tìm kiếm sự ủng hộ của các chí sĩ Trung Quốc, Nhật
Bản; cầu viện Nhật Bản ủng hộ phong trào giải phóng đất nước, tổ chức phong
trào Đông Du cầu học, đào tạo nhân tài, lập chính phủ lâm thời “Tân Việt Nam cống
hiến”, mua khí giới tìm cách chuyển về nước giúp cụ Hoàng Hoa Thám..., đều là
những việc lớn mà Phan Bội Châu đã hết sức mưu cầu đúng theo phẩm cách và chí
khí của ông. Tiếc rằng, do sự cấu kết giữa chính quyền Pháp ở Đông Dương với
chính quyền Trung
Quốc và Nhật Bản trong việc đàn áp, tiêu diệt
phong trào yêu nước của Việt Nam, những việc lớn đó của ông đều thất bại. Khi bị
chính quyền Quảng Đông bắt giữ, dù đối diện với cái chết cận kề nhưng tiết
tháo, phẩm cách hào hùng của Phan Bội Châu vẫn tỏa sáng qua thái độ ung dung, tự
tại, ngạo nghễ đón nhận hoàn cảnh “Tôi biết sớm chiều gì đây, đầu tôi cũng lìa
khỏi cổ, nhưng tôi vẫn lấy làm vui vẻ” [1, tr.14].
Trung thành với đạo nghĩa, tự nguyện gánh trách nhiệm xả
thân vì nước, vì dân của kẻ sĩ, Phan Bội Châu đã không ngừng hiện thực hóa các
phẩm chất đạo đức của mình vào hoạt động cách mạng cứu nước. Ông trở thành linh
hồn của phong trào giải phóng dân tộc những thập kỷ đầu thế kỷ XX, và là một
trong những nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa lỗi lạc của Việt Nam.
3. Phẩm chất kẻ sĩ là một nền tảng của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa Phan
Bội Châu, là sức mạnh kết nối ông với giới nhân sĩ, đồng chí cách mạng trong và
ngoài nước
Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa là một trong ba thành tố cấu
thành chủ nghĩa yêu nước của Phan Bội Châu. Có thể coi tư tưởng dân tộc chủ nghĩa
của ông là trình độ phát triển cao của tư tưởng yêu nước bởi sự hình thành những
tư tưởng này gắn liền với giai đoạn phong trào giải phóng dân tộc trên bình diện
khu vực và thế giới, đã góp phần vào sự định danh một khái niệm chính trị thời
hiện đại, đó là “chủ nghĩa dân tộc”. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của ông đã vượt
qua giai đoạn ý thức sơ khởi về tính quốc gia, tính cộng đồng với các phong
trào yêu nước có thể được coi là có tính quốc gia, “là kết quả của một quá
trình mà nhân dân trở nên ý thức về bản thân như một thực thể quốc gia riêng biệt
trong thế giới hiện đại, một quá trình mà họ sẵn sàng chuyển lòng trung thành của
họ từ làng, hoặc khu vực, hoặc quốc vương, đến nhà nước quốc gia” [7, tr.15]. Tư
tưởng dân tộc chủ nghĩa của ông đã đạt tới nhận thức của chủ nghĩa dân tộc hiện
đại, trưởng thành khi ông đại diện cho “một phần lớn cộng đồng địa phương bắt đầu
nhận thức được xã hội của mình như là một cộng đồng quốc gia rõ ràng trên thế
giới, như một cơ thể của công dân liên kết với nhau bởi một số phận chung” [7,
tr.15].
Có thể cô đọng tư tưởng
dân tộc chủ nghĩa của Phan Bội Châu thể hiện trong ba nguyên tắc nhận thức lớn
chi phối mọi hoạt động cách mạng của ông như sau:
1)
Độc lập dân tộc là mục đích tối cao, duy nhất.
2)
Tất cả những cách thức, thủ đoạn, đường lối, chiến
lược, lực lượng nào có khả năng thúc đẩy thực hiện được mục đích độc lập dân tộc
đều được ông huy động vào thực tiễn hoạt động cách mạng.
3)
Lợi ích dân tộc, thể diện dân tộc là trên hết.
Ba nguyên tắc này được chính Phan Bội Châu khẳng định: “Một
đời người định mưu, chỉ cốt hỏi ở nơi mục đích, cầu lấy được ở năm phút đồng hồ
cuối cùng. Đến như thủ đoạn phương châm, tuy có lúc cải canh, mà cũng không kể”
[1, tr.108]. Đây cũng là tiêu chí, hệ chuẩn giá trị phân biệt tư tưởng yêu nước
của ông với các nhà cách mạng khác cùng thời, là điều khiến chúng ta có thể lý
giải tại sao cùng là nho sĩ, nhưng Phan Bội Châu không bị ràng buộc bởi những
giáo điều cứng nhắc của Nho giáo và dễ dàng tiệm cận tới những phong trào, phương
pháp, tư tưởng cách mạng tân tiến nhất lúc này.
Những nguyên tắc có tính “tri hành hợp nhất” này kết hợp với
ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ đối với non sông, đất nước và những phẩm chất kiên
cường, trước sau như một của người trí thức Nho giáo dấn thân vào con đường
cách mạng vì nước quên nhà đã làm nên cuộc đời cách mạng lừng lẫy của Phan Bội
Châu, cho dù ông tự nhận rằng, “bao nhiêu năm bôn tẩu, mưu tính trăm việc mà
không nên một việc gì” [1, tr.14]. Ông đã sử dụng danh vị khoa cử làm phương tiện
thu phục lòng người, phục vụ con đường cứu nước. Ông đã thay đổi linh hoạt cách
thức tổ chức hoạt động cứu nước một cách nhanh chóng và thức thời từ Đông Du cầu
viện sang Đông Du cầu học, từ tổ chức Duy Tân hội năm 1904 chuyển sang thành lập
Việt Nam Quang phục hội năm 1912 rồi chuyển thành tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng
năm 1924, kết hợp chủ trương bạo động, kể cả thủ đoạn ám sát với tuyên truyền
nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, vun trồng nhân tài, v.v.. Khi bị giam lỏng
tại Huế, bị tách khỏi mạch nguồn phong trào đấu tranh của nhân dân, ông đã
không tiếc sức mình, trong hoàn cảnh có thể, chiêm nghiệm lại toàn bộ vốn tri
thức Hán học để viết bộ Khổng học đăng,
Quốc văn Chu Dịch diễn giải với mong
muốn bảo vệ và phát huy hồn cốt văn hóa dân tộc trong thời đại mới.
Tất cả những sách lược, phương châm, thủ đoạn, phương pháp đó
của Phan Bội Châu cho thấy, ông là một bậc thầy về Dịch học, tuân thủ triệt để
tinh thần tuỳ thời, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định mục tiêu đấu tranh
giành lại độc lập cho dân tộc. Dù thời thế thay đổi, ông luôn bám sát vào tình
hình thực tế quần chúng cách mạng trong nước và những biến động trên thế giới để
có những quyết đoán giúp phát huy tối đa sức mạnh của cá nhân và tổ chức nhằm
phục vụ nghĩa lớn cứu nước. Chủ trương cầu viện Nhật Bản của ông trên cơ sở
thuyết nhân mãn của Mantous và lý luận về tính đồng chủng, đồng văn là có chủ ý
nhằm dùng lý luận thuyết phục, khai thác tối đa sự ủng hộ của chính phủ Nhật đối
với cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam do ông chủ trương. Lập luận này được
coi là thức thời và hữu ích cho mục đích cầu viện trong bối cảnh thập kỷ đầu thế
kỷ XX, khi mà một nhà nước của giai cấp vô sản chưa có dấu hiệu ra đời và nước
Nhật như cái phao cứu sinh hiện thực, duy nhất trong tầm nhìn của nhà yêu nước
Phan Bội Châu.
Mặc dù chủ trương Đông
Du cầu viện đó của ông bị phá sản, song việc ông dễ dàng kết giao được với nhiều
nhân sĩ Nhật Bản, Trung Quốc bất chấp rào cản ngôn ngữ và được họ hỗ trợ hết
lòng đã cho thấy, chính mẫu số chung của phẩm chất kẻ sĩ giữa ông và các trí thức
Nhật Bản, Trung Quốc là sức mạnh thuyết phục, là chất keo gắn kết, là cơ sở cho
sự tin cậy, nể trọng và ủng hộ lẫn nhau. Không phải là tư tưởng đồng chủng, đồng
văn mà chính là phẩm cách cao quý của kẻ sĩ vượt mọi gian nan, trở ngại, hy
sinh danh lợi cá nhân vì nghĩa lớn của Phan Bội Châu đã trở thành vũ khí văn
hóa thu hút, chinh phục các nhân sĩ quốc tế và đồng chí, đồng bào sát cánh bên
ông trong cuộc đấu tranh cách mạng. Có thể nói, chính nhân phẩm đạo đức và
trách nhiệm kẻ sĩ vì nghĩa lớn của Phan Bội Châu là một tấm gương, đồng thời là
một bí quyết chinh phục lòng dân cho bất cứ ai sống vì lý tưởng dân tộc độc lập.
Có thể nói, chính sự kiên định con đường cứu nước, không
phút giây nào ngơi nghỉ giữ gìn, trau dồi các phẩm hạnh kẻ sĩ, vượt qua mọi
gian khó, hiểm nguy trên con đường vận động cách mạng của Phan Bội Châu là cơ sở
nền tảng cho tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, chủ nghĩa yêu nước mà ông đã kiên cường
xây dựng và theo đuổi trong suốt cuộc đời đấu tranh cách mạng vì sự nghiệp giải
phóng dân tộc của mình. Đây chính là chìa khóa vàng sức mạnh của Phan Bội Châu,
giúp ông thiết lập những mối quan hệ vô giá, đáng tin cậy, hiệu quả và bền vững
với đồng chí, bạn bè trong nước và quốc tế, là cơ sở cực kỳ quan trọng giúp cho
ông có thể huy động được nguồn tài lực quý giá để gây dựng lực lượng và hoạt động
cách mạng. Để lại bài học lớn về việc trau dồi, tu dưỡng nhân cách kẻ sĩ và những
kinh nghiệm sâu sắc và quý giá trong xây dựng lực lượng, xác định đường lối, lựa
chọn phương pháp cách mạng,... cho thế hệ kế tiếp thành công lớn nhất của nhà
cách mạng dân tộc chủ nghĩa Phan Bội Châu.
Lê Thị Lan- Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1] Phan Bội Châu toàn tập (12 tập)
(2000), t.6, Nxb Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn
ngữ Đông Tây, Hà Nội.
[2] Luận ngữ (Đoàn Trung Còn dịch) (1950), Trí Đức
tòng thơ, Sài Gòn.
[3] Trần Đức Cường
(tổng chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam
(15 tập), t.7,8, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh
(2011), Toàn tập, t,2, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội
Châu. Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật,
Hà Nội.
[5]
Chương Thâu (2007), Góp phần tìm hiểu Nho giáo, Nho sĩ trí thức Việt Nam trước
năm 1945, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
[6] Chương Thâu
(2004), Nghiên cứu Phan Bội Châu, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] William
J.Duiker (1976), The rice of Nationalism
in Vietnam, 1900 - 1941. Cornell University Press, Ithaca and London.