image banner
            VI | EN
SỰ LỰA CHỌN Ý THỨC HỆ CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM ĐỘC LẬP QUA ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC KHOA CỬ
Lượt xem: 8

  

Tóm tắt: Chủ nghĩa yêu nước, ý thức độc lập tự chủ là sản phẩm tinh thần cơ bản của quá trình dựng nước và giữ nước kết hợp với quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Sớm ý thức được vai trò dẫn dắt của mình trong công cuộc dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử đã đề xướng đường lối giáo dục khoa cử với mục đích khẳng định sự thống nhất giữa quốc gia với quân chủ, giữa ái quốc với trung quân, tăng cường sức mạnh của triều đại và sự cố kết của xã hội. Đường lối này không phải là nhất thành bất biến, mà tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, mức độ phát triển của nhà nước và xã hội để có những bước đi riêng biệt trong từng thời đoạn. Bài viết này tập trung trả lời câu hỏi: Sự lựa chọn ý thức hệ phục vụ cho công cuộc dựng nước và giữ nước được phản ánh như thế nào trong đường lối giáo dục và đào tạo của các triều đại phong kiến Việt Nam?

Từ khóa: Ý thức hệ, các triều đại phong kiến Việt Nam độc lập, đường lối giáo dục khoa cử.


Có thể coi lịch sử Việt Nam là lịch sử của công cuộc giữ nước và dựng nước. Hai công cuộc này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Đây là đặc điểm nổi bật, là quy luật đặc thù của lịch sử dân tộc. “Dựng nước và giữ nước đã trở thành một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta” [4, tr.565]. Giai đoạn phong kiến độc lập ở Việt Nam cũng bị chi phối bởi đặc trưng đó. Công cuộc dựng nước thường bị ngắt quãng nhiều lần bởi những cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang, rồi ngay sau khi thắng lợi, trong lúc dựng nước vẫn phải lo nghĩ kế giữ nước, sẵn sàng trong tư thế đánh giặc giữ nước. Nền độc lập dân tộc thường xuyên ở trong tình trạng gần như bị đe dọa; do đó, giữ nước cũng luôn là nhiệm vụ

được các triều đại đặt ra. (*)  

 Trong xã hội cổ truyền ở vùng Đông Bắc Á, trong đó có Việt Nam, giáo dục và khoa cử thời phong kiến là việc đào tạo và

lựa chọn nhân tài cho chế độ, là một định chế chính trị mang tính chính thức và giữ địa vị thống trị. Vì thế, đó cũng chính là con đường tìm kiếm nguồn nhân lực và nhân tài để bổ sung cho chế độ, làm rường cột cho bộ máy nhà nước thời phong kiến ở nước ta. Có thể khẳng định, “chế độ khoa cử phong kiến đã ngự trên đất nước chúng ta non một ngàn năm, và đã góp phần gây dựng nên nền tảng cùng cơ cấu thượng tầng nhà nước” [5, tr.12]. 

Song, đường lối giáo dục và đào tạo của các triều đại phong kiến không phải là nhất thành bất biến, mà là một quá trình luôn thay đổi, cải biến theo nhu cầu, đòi hỏi và ý thức hệ của các triều đại phong kiến trong từng giai đoạn và đặc biệt là nó chịu sự chi phối của hoàn cảnh phải thường xuyên tiến hành công cuộc giữ nước và dựng nước. 

1. Đường lối giáo dục khoa cử thể hiện sự lựa chọn ý thức hệ hòa đồng Tam giáo

Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê tồn tại tổng cộng trong khoảng 70 năm. Các vị vua thời đại này đều là các võ quan. Triều đình chỉ lập võ tướng giữ các vị trí trọng yếu, còn con em hoàng tộc được chia đất để quản lý các vùng. Bản thân các vị vua có vốn kiến thức còn ít, nhưng người có kiến thức Nho học chưa được tin dùng (vì vừa trải qua 1000 năm Bắc thuộc, việc đào tạo chữ Hán và Nho giáo nhằm mục đích phục vụ cho chính quyền đô hộ). Tầng lớp trí thức được tin cậy đa phần là những người tu hành trong chùa với kiến thức rộng cả về Đạo giáo và Nho giáo. Các nhà vua giai đoạn này thường phải dùng võ lực để dẹp loạn, giữ yên đất nước, nhờ nhận thấy tư tưởng “phổ độ chúng sinh”, “cứu khổ cứu nạn”, “từ bi hỉ xả” của Phật giáo có thể làm yên ổn xã hội, hạn chế dân chúng tham gia bạo loạn nên đã tin dùng các tăng nhân và đạo sĩ, xem như các quan chức của triều đình. 

Rất nhiều tăng nhân được phong làm Quốc sư, Tăng thống, tăng lục, đại hiền quan; các đạo sĩ được phong làm Sùng chân, v.v., và tham gia bàn bạc chính sự trong triều, như Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu[1]. Tăng thống Đỗ Pháp Thuận từng giữ trọng trách ngoại giao cho nhà Tiền Lê, Vạn Hạnh làm cố vấn thời Lê Đại Hành và mang dáng dấp của một quốc phụ[2] cho nhà Lý, Sùng chân Đặng Huyền Quang trông coi Đạo giáo trong nước thời Đinh.

Phật giáo vốn bắt rễ vững chắc trong xã hội từ thời Bắc thuộc, và ngày càng được phát triển mạnh ở các triều đại phong kiến độc lập đầu tiên của Việt Nam. Ngoài hoàng tộc, tầng lớp trên trong xã hội là quý tộc và hào trưởng đều lấy việc tu nhân tích đức theo Phật giáo làm con đường tiến thân[3]. Do vậy, tầng lớp trí thức giai đoạn này dùng chữ Hán để truyền bá và học Phật giáo trong các chùa chiền. Trong chính trị, các vị vua tin dùng những người có kiến thức sâu rộng về Tam giáo - Nho, Phật, Lão, vừa giúp vua trị dân, vừa giúp việc đối ngoại. 

Trình độ phát triển của các nhà nước thời kỳ đầu Đại Việt còn tương đối sơ khai, vì ba vương triều đầu tiên đều có đặc điểm chung là phải tập trung chống thù trong giặc ngoài[4], Đinh Tiên Hoàng cho đặt vạc dầu, cũi hổ ở giữa triều đình để hù dọa và trừng phạt những kẻ chống đối, dùng quan hệ hôn nhân và tước lộc để ràng buộc, mua chuộc các sứ quân và các hào trưởng địa phương. Đó là phong cách hành xử của một thủ lĩnh quân sự hơn là của một vị hoàng đế. Mặc dù yêu cầu gìn giữ chính quyền và đòi hỏi quan chức tướng lĩnh cũng như nhân dân trung thành với triều đại mình luôn được các vị vua chú trọng, nhưng cách thức và biện pháp thực thi càng về sau càng trở nên bài bản thông qua định chế khoa cử và sự giúp đỡ của đông đảo tầng lớp trí thức. 

Việc kiêm nhiệm thêm chức năng chính trị của các nhà tu hành là hệ quả tất yếu của một cơ sở kinh tế - xã hội còn non yếu và rời rạc. Lịch sử của ba triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê là lịch sử đấu tranh của hai xu hướng đối lập: Phân cắt và thống nhất, ly tâm phân quyền và hướng tâm tập quyền về chính trị, qua quá trình lịch sử đó mới từng bước hình thành diện mạo của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền dân tộc. Sức mạnh của quân lực chỉ giúp xã hội và vương triều ổn định trong thời gian ngắn[5], sự cố kết xã hội và ý thức trung thành với triều đại cần một khoảng thời gian gây dựng cùng với các thiết chế kinh tế, xã hội, văn hóa phức tạp hơn; trong đó, giáo dục và đào tạo là một công cụ vừa quan trọng vừa hữu hiệu để tuyên truyền cho nhà nước mà nhà Lý đã bước đầu nhận ra. 45

Như vậy, trong giai đoạn này, chúng ta thấy vẫn còn sự chia tách khá rõ giữa một bên là ý thức độc lập quốc gia, dân tộc, với một bên là ý thức trung thành cho triều đại. Ý thức tự hào dân tộc đã có, nhưng đạo trị nước thì vẫn chưa dựa vào Nho giáo và ý thức hệ cũng như những tư tưởng ổn cố cho xã hội mà nó mang lại[6].

Thời Lý, Trần, Lê, chế độ phong kiến đang phát triển, giai cấp phong kiến còn đại diện cho dân tộc, giữ vai trò tổ chức, lãnh đạo công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Qua thực tiễn lịch sử, các vương triều phong kiến ở nước ta đã sớm nhận thức được mối quan hệ giữa dựng nước và giữ nước cũng như yêu cầu thường xuyên của nhiệm vụ giữ nước.

Những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đã tạo điều kiện đưa đất nước ta bước vào thời kỳ mới: Thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn; thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc và nền văn hóa dân tộc trong thời Lý. Ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của kinh đô đối với sự thịnh suy của đất nước, sự tồn vong của vương triều, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Bài Chiếu dời đô, vì lẽ đó, thể hiện nhận thức chính trị hết sức sâu sắc và căn bản. Ông đã gắn liền việc dời đô với việc dựng nước và phát triển đất nước: “Đóng đô ở nơi trung tâm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”. Ông đã gửi vào bài chiếu nguyện vọng xây dựng một vương triều bền vững, một nhà nước phong kiến tập quyền hùng mạnh, một quốc gia độc lập cường thịnh và trường tồn.

Nhà Lý thay nhà Tiền Lê xuất phát từ yêu cầu bức thiết trước sự tồn vong của đất nước (dập tắt xu hướng cát cứ, củng cố khối thống nhất quốc gia dân tộc, đập tan âm mưu liên minh giữa nhà Tống phía Bắc với Chămpa phía Nam nhằm xâm lược Đại Việt), đã bắt tay vào xây dựng nhà nước tập quyền. Các vị vua đầu triều Lý đứng trước sự lựa chọn giữa 2 mô hình: Mô hình nhà nước theo thể chế quân chủ Phật giáo như một số nước Đông Nam Á đương thời, hay mô hình quân chủ Nho giáo sẵn có của nhà Tống. Hệ tư tưởng Phật giáo vốn đã được truyền bá, ăn sâu vào tâm thức và có ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống tinh thần dân tộc. Tuy nhiên, xét từ góc độ tư tưởng chính trị, thể chế quân chủ Phật giáo theo kiểu Đông Nam Á là một thể chế lỏng lẻo, không đáp ứng được yêu cầu xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đủ mạnh. Đại Việt vừa thoát khỏi 1000 năm ách đô hộ của hệ tư tưởng - thể chế quân chủ Nho giáo, nên từ trong tâm thức không dễ dàng chấp nhận mô hình này, dù nó là sản phẩm của một xã hội đã phát triển cao. Từ hoàn cảnh đặc thù đó các vị vua đầu triều Lý đã lựa chọn mô hình thứ ba: Xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền dân tộc trên nền tảng dung thông hệ tư tưởng Tam giáo - Nho, Phật, Lão. 

Mô hình sáng tạo này đã đóng vai trò quyết định tạo nên sức mạnh toàn diện của hai triều đại Lý - Trần, giúp quân dân Đại Việt giành được những thắng lợi oanh liệt trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, đồng thời góp phần tạo nên trụ cột tinh thần, nền tảng văn hóa của văn minh Đại Việt. Tuy nhiên, tư tưởng dung thông Tam giáo, trên thực tế, đã khiến cho quá trình phân hóa xã hội, quá trình phong kiến hóa xã hội Việt Nam diễn ra chậm chạp và không triệt để. Tư tưởng từ bi, bình đẳng, bác ái của Phật giáo, một mặt, có tác dụng tích cực rút ngắn khoảng cách giữa các giai tầng trong xã hội, củng cố khối thống nhất cộng đồng dân tộc, nhưng mặt khác, lại là nhân tố hạn chế quá trình giải thể công xã nông thôn, phân hóa các cực địa chủ - nông dân, vốn tạo nên cơ sở đích thực của một chế độ phong kiến hoàn chỉnh. 

Do vậy, đường lối giáo dục của triều đại nhà Lý - Trần nhằm tăng cường khối thống nhất đất nước, tăng cường sức mạnh cho quốc gia, dân tộc trước nhu cầu giành, giữ và xây dựng nền độc lập cũng phải được soi chiếu dưới mô hình hòa đồng Tam giáo. 

Như thời Đinh - Lê, giai đoạn đầu nhà Lý cũng tận dụng học vấn của sư tăng để trị nước. Lý Thái Tổ phong Vạn Hạnh làm Quốc sư, Thẩm Văn Uyển làm Tăng thống. Đạo Phật thời kỳ đầu nhà Lý được tôn sùng và phát triển rất nhanh, “dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền”. Các sư thường được mời vào cung để bàn chính sự, thời nhà Lý có những gương mặt Thiền sư nổi tiếng như Mãn Giác, Thông Biện, Không Lộ, Viên Chiếu v.v.. Phật giáo thời Lý thường hòa trộn với Đạo giáo nên các sư tăng thời này thường có các huyền tích và các chuyện ma thuật, phù phép, như Thái sư hóa hổ, Từ Đạo Hạnh đầu thai sinh Lý Thánh Tông, v.v.. Nhưng, Phật giáo không đủ làm lợi khí cho nhu cầu xây dựng chế độ phong kiến tập quyền (quyền bính tập trung về trung ương do vua đứng đầu). Nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình đã diễn ra, thậm chí là nội loạn cung đình khi Thái tử Lý Phật Mã (tức Lý Thái Tông) suýt bị các vương giết để đoạt quyền sau khi Lý Thái Tổ mất. Sau sự kiện đó, nhà Lý bắt đầu nhận ra sự bất cập của Phật giáo và sức mạnh giáo huấn tư tưởng do Nho giáo đem lại[7].

Chính các quan văn trong triều Lý đã khởi xướng việc noi theo chế độ nhà Hán tới Tống của Trung Quốc, sử dụng Nho giáo để xây dựng một ý thức hệ phong kiến tập trung và xây dựng, duy trì trật tự phong kiến tập quyền. Cụ thể là lựa chọn Tam cương, Ngũ thường và thuyết Thiên nhân cảm ứng của Đổng Trọng Thư đời Hán để rèn lòng trung thành của quan lại và thần dân với vua. Lý Thánh Tông đã thuận theo, dù ông là một người sùng Phật giáo. Dấu ấn đầu tiên của sự lựa chọn này là việc xây dựng Văn Miếu để thờ vị tổ Nho học Khổng Tử vào năm 1070 và cho Hoàng Thái tử đến theo học. “Vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc có danh ngang với một nước Thiên tử” [1, tr.50]. Lý Thánh Tông là tổ thứ 6 của Thiền phái Thảo Đường ở nước ta, nhưng ở góc độ làm vua, ông vẫn cho xây dựng Văn Miếu, ông vua vừa giữ cương vị người đứng đầu xã hội, lại vừa đóng vai trò lãnh đạo tâm linh, đây là một đặc trưng đáng lưu ý xuất hiện trong cả hai triều đại Lý - Trần. Sau đó, sang đời Lý Nhân Tông, vua cho mở khoa thi Nho học tam trường (1075) để tuyển Minh kinh bác học, tức tuyển chọn những người học rộng, hiểu rõ kinh truyện qua ba kỳ thi kinh điển Nho gia rồi bổ dụng làm quan chức. 7

Khoa thi năm 1075 là khoa văn cử đầu tiên để chọn quan văn thay thế cho chế độ nhiệm tử, Lê Văn Thịnh đã được bổ dụng làm văn quan sau kỳ thi này, về sau thăng lên chức Thái sư quan đầu triều. Năm 1076, nhà Lý cho lập Quốc Tử Giám cạnh Văn Miếu, chọn các quan Nho học làm thầy dạy con em quý tộc và các quan chức cấp cao học tập. Đây là trường công cấp Trung ương đầu tiên ở nước ta. Những động thái này đã thúc đẩy việc học Hán học của sĩ tử trong nước, nhất là vùng kinh thành và ngoại vi kinh đô. Nhà Lý đã tổ chức được tổng cộng 7 khoa thi Nho học. Nhờ những kỳ thi Nho học này, nhà Lý chọn được nhiều quan văn để bổ dụng vào các vị trí trong triều, đặc biệt là ngoại giao, không còn các vị sư phải tiếp sứ như thời Đinh - Lê nữa.

Tuy vậy, nhìn chung, nhà Lý tổ chức các khoa thi Nho học rất thưa thớt, thậm chí có thời gian tới 31 năm không có khoa thi nào. Nho học chỉ được xem như một tri thức cung cấp kỹ năng và các nhà nho là những thư lại thuần túy. Xét từ góc độ ảnh hưởng tới tư tưởng, ý thức xã hội như một ý thức hệ, Phật giáo và Đạo giáo vẫn được vua quan và dân chúng sùng tín. Các vị vua ham mê Phật pháp, thường triệu vời các Thiền sư vào cung lập đạo tràng, đàm đạo Phật giáo, xây chùa dựng tháp. Đến thời Lý Cao Tông, dưới sự cố vấn của Nho thần Đàm Dĩ Mông, nhà vua đã sa thải bớt các sư, tổ chức khoa thi Tam giáo để chọn người hiền tài và bổ dụng. 

Sự phát triển Nho học và khoa cử được đặt cơ sở từ nhà Lý, sang thời Trần lại tiến thêm một bước, trở nên quy củ và bài bản hơn. Điều này không phải không có lý do. Đây là một triều đại đặc biệt trong lịch sử, vừa lập được võ công hiển hách nhất trong lịch sử chế độ phong kiến, vừa tạo nên văn nghiệp rạng rỡ với việc sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm mang tư tưởng dân tộc độc đáo.  

Đến thời nhà Trần, quân dân Đại Việt đứng trước thử thách cực kỳ khốc liệt - bộ tộc du mục Tácta đã trở thành đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh, từng tung vó ngựa khắp Á Âu và chinh phục cả Thiên triều Trung Quốc. Mọi hoạt động từ kinh tế, hành chính, quân sự, ngoại giao, văn hóa tư tưởng, v.v. dưới thời Trần đều nhằm tăng cường khối thống nhất quốc gia, tăng cường sức mạnh toàn diện của đất nước để vượt qua được thử thách của cuộc chiến tranh vệ quốc. 

Kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, xúc cảm khi nhìn thấy phần mộ tổ tiên ở Thiên Trường bị tàn phá, Trần Thái Tông viết: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá / Non sông nghìn thuở vững âu vàng. Xã tắc được gắn liền với tổ tiên, tổ tiên thịnh suy cùng xã tắc. Các quý tộc nhà Trần luôn có ý thức rằng quốc gia xã tắc này là của chung quý tộc họ Trần, mọi người đều phải có trách nhiệm cùng bảo vệ và thụ hưởng. Ngay sau khi thiết lập, nhà Trần chủ trương xây dựng mô hình nhà nước theo thể chế quan liêu quý tộc đồng tộc có tính tập quyền cao độ. Bài hịch nổi tiếng của Trần Hưng Đạo khích lệ tinh thần binh sĩ trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai khẳng định một lần nữa tư tưởng: Nước nam là của họ Trần, nhấn mạnh sự gắn bó lợi ích, trách nhiệm và trung hiếu của bề tôi với chủ tướng[8]. Trong thời chiến cũng như thời bình, hầu hết những vị trí quan trọng trong triều đình và những vùng trọng yếu của đất nước đều do các quý tộc họ Trần nắm giữ.

Phật giáo thời Trần được xem là quốc giáo. Trong triều, ngoài nội hệ tư tưởng Phật giáo luôn giữ vai trò chủ đạo. Sử chép có đến nửa nước là sư tăng. Tuy nhiên, so với thời Lý, Phật giáo thời Trần có điểm khác về tổ chức cũng như tư tưởng, ở chỗ, lần đầu tiên có một tổ chức Giáo hội chung thống nhất và một dòng Thiền hợp nhất các hệ phái Thiền ở Việt Nam - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của nhà Trần, người lãnh đạo quân dân Đại Việt tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất, cũng là người đặt nền móng lý luận cho Thiền phái này. Trần Nhân Tông là vị vua anh hùng, người chiến sĩ đích thực của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba, cũng đồng thời là tổ thứ nhất của Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hầu hết quý tộc họ Trần đều theo Phật giáo. Các vua đầu nhà Trần đều nhường ngôi cho con sớm để chuyên tâm nghiên cứu và tu hành Phật pháp.

Nhưng, ở nhà Trần, việc thiết lập xã hội theo tôn ty thứ bậc, có trật tự trên dưới rõ ràng vẫn phải nhờ sự giúp sức của học vấn Nho giáo. Về cơ bản, cốt lõi tư tưởng tâm linh bên trong xã hội Đại Việt thời Trần vẫn là Phật giáo, còn bên ngoài đời sống hiện thực, duy trì sự vận hành của guồng máy xã hội hiện thực vẫn là các nhà nho với tri thức, kỹ năng được Nho giáo trang bị. Từ Hoàng Thái tử đến con cháu các quan đều phải học qua các trường trang bị kiến thức cai quản quốc gia của Nho giáo rồi mới bước vào đường hoạn lộ, vì trong thời điểm đó, không có học thuyết nào cung cấp các nguyên lý kinh bang tế thế đầy đủ bằng Nho giáo. 8

Nhà Trần đã tiến hành các cuộc thi Nho học để tuyển thêm người bổ sung vào bộ máy cai trị, mặc dù các chức vụ trọng yếu vẫn do các quý tộc họ Trần nắm giữ; đồng thời từng bước xúc tiến và hoàn thiện chế độ giáo dục Nho học và văn cử. Khoa thi đầu tiên của nhà Trần được mở năm 1232, chọn Thái học sinh để bổ dụng quan chức, bên cạnh chế độ đặc cách thừa ấm (ban chức tước cho con cháu của người có công với triều đình và hoàng tộc). Tuy nhiên, việc thi cử không phải là việc được phổ cập trong xã hội, những người đi thi vẫn phải là con cháu các quan chức. 

Mãi tới cuối thời Trần, những hạn chế trong giáo dục học vấn mới dần được khắc phục. Vua Trần Thuận Tông xuống chiếu đặt đốc học ở các trấn lộ và mở trường công ở phủ, huyện, châu quanh kinh đô Thăng Long “để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục”. Lộ quan và đốc học có nhiệm vụ “dạy bảo học trò thành tài nghệ, cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc”. Một số trường tư do các Nho sĩ đứng ra mở hoặc các lớp học Nho giáo ở địa phương cũng đã xuất hiện thời Trần.

Chế độ thi cử Nho học thời Trần luôn được điều chỉnh, ngày càng quy củ và có trình tự hơn, các khóa thi thời Trần đều được gọi là thi Thái học sinh (kỳ thi của những người học rộng kinh điển Nho gia). Vua cho tổ chức các kỳ thi lấy đậu Kinh trạng nguyên (người ở miền bắc) và Trại trạng nguyên (người từ Thanh Hóa trở vào) để khuyến khích việc học tới các vùng xa ngoài kinh đô. Sang thời Trần Duệ Tông, khóa thi năm năm 1374 quy định ai đỗ Thái học sinh sẽ được gọi là Tiến sĩ để vào cung thi “Điện” trước sân rồng. Danh hiệu Tiến sĩ ở Việt Nam bắt đầu có từ đây. Dưới sự cố vấn của Hồ Quý Ly, vua Trần Thuận Tông định rõ thể lệ thi Hương, thi Hội, thi Đình, và qua kỳ thi Đình mới phân loại để xếp đỗ. Nhà Trần đã tổ chức 10 kỳ thi Hội, lấy đỗ 316 Thái học sinh. Như vậy, thông qua khoa cử một tầng lớp trí thức phong kiến cao cấp đã hình thành và phát triển. 

Ngoài thi Nho học, nhà Trần cũng mở khoa thi thông Tam giáo vào năm 1247 để bổ dụng quan chức. Nhà Trần còn kiểm tra kiến thức Phật học để chọn lựa những người thông hiểu kinh Phật làm quản lý tôn giáo cho nhà nước: Đường đầu thủ, tri quán, tri tự, v.v.. Ngoài ra, nhà Trần còn tổ chức nhiều kỳ thi lại viên với hai môn toán và viết để đào tạo thư lại cho các cơ quan hành chính Trung ương. 

Nhà Trần, trong 175 năm tồn tại, đã có nhiều biện pháp để phát triển Nho học với tư cách một công cụ chấn chỉnh và duy trì trật tự xã hội phong kiến tập quyền. Một loạt “học trò mặt trắng” được nhà Trần thừa nhận và giao nhiều trọng trách, bộ máy chính quyền có sự kết hợp chặt chẽ giữa tầng lớp quý tộc họ Trần và tầng lớp quan liêu đang phát triển. Một số bậc đại Nho đã xuất hiện thời kỳ này, như Chu Văn An - được xem như Khổng Tử của nước Nam, là người thầy và nhà giáo dục đầu tiên, được đưa vào tòng tự trong Văn Miếu; Lê Quát, Phạm Sư Mạnh v.v.. Đội ngũ quan liêu và xu hướng quan liêu của nhà nước có tăng lên, nhưng chưa nặng nề. Việc mở rộng Quốc Tử Giám, du nhập sách vở Nho học, kiện toàn chế độ thi cử Nho học, đặt quan học ở địa phương của nhà Trần đã đặt những bước đi căn bản đầu tiên cho giáo dục Nho học phát triển rực rỡ ở thời Lê sau này. Vị trí của Nho giáo từ giai đoạn cuối thời Trần, do nhu cầu phát triển của chế độ quân chủ theo hướng tập quyền, càng ngày càng được tăng cường và lấn át dần Phật giáo. [9]

Một số Nho sĩ vốn là quan lại cao cấp, tiêu biểu là Lê Bá Quát9, Phạm Sư Mạnh đã đấu tranh chống lại ảnh hưởng của Phật giáo và chủ trương cải cách chế độ nhà Trần theo Nho giáo Trung Quốc. Thượng hoàng Trần Minh Tông đã phê phán chủ trương cải cách đó: “Nhà nước đã có phép tắc riêng, Nam Bắc khác nhau, nếu nghe kế của bọn học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh loạn ngay”. Trần Nghệ Tông vừa lên ngôi đã tuyên bố: “Mọi công việc đều phải theo lệ cũ đời Khai Thái (1324 - 1329)” và tiếp tục chống xu hướng cải cách. “Triều trước dựng nước, có luật pháp, chế độ riêng, không theo chế độ nhà Tống là vì Nam, Bắc đều chủ nước mình, không phải bắt chước nhau. Khoảng năm Đại Trị (1358 - 1369), bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý sâu xa của việc lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo phong tục phương Bắc cả như về y phục, âm nhạc… thật không kể xiết” [3, tr.233].

Cuộc đấu tranh về mặt chính trị ở cuối thời Trần là giữa quý tộc họ Trần và quan liêu Nho sĩ diễn ra thành xu hướng bảo thủ nhưng có tinh thần dân tộc với xu hướng cải cách nhưng lại theo mô hình ngoại lai. Đây là điểm hạn chế của cả hai xu hướng, và cũng góp phần dẫn nhà Trần tới chỗ bế tắc, sụp đổ. Ở góc nhìn tư tưởng, đó là sự dùng dằng giữa ý thức hệ Phật giáo đang gây nhiều tệ lậu và bất lực trong xã hội với ý thức hệ Nho giáo đang lên, muốn chứng tỏ được sự ưu việt và thực lực quản lý xã hội tốt hơn Phật giáo.  

Sự sụp đổ của triều Trần, sự kết thúc của tầng lớp quý tộc huyết thống họ Trần, cho dù có trải qua những cố gắng canh tân với những khảo nghiệm đầy khó khăn của triều Hồ, đã dẫn chế độ phong kiến chuyển sang mô hình quân chủ quan liêu Nho giáo ở thế kỷ XV. Về khách quan, đó là một bước phát triển của chế độ phong kiến, nhưng cũng đồng thời là bước mở đầu cho thời kỳ thống trị của chế độ chuyên chế quan liêu với tất cả mặt tích cực và hậu quả mà nó để lại trong quan trường và khoa cử. [10]

2. Đường lối giáo dục khoa cử thể hiện khuynh hướng lựa chọn ý thức hệ Nho giáo

Thời Hồ, Hồ Quý Ly đã loại bỏ tầng lớp quý tộc họ Trần và chuyển dần từ chế độ quân chủ quý tộc sang chế độ quân chủ quan liêu, một trong những biện pháp đáp ứng đòi hỏi tất yếu là hạn chế thế lực tầng lớp quý tộc10. Ông ra sức tuyển chọn, đề bạt và tổ chức thi cử để nhanh chóng đào tạo một đội ngũ quan liêu mới. Năm 1400, ngay khi mới vừa lên ngôi, ông đã tổ chức thi Thái học sinh; năm 1404, định lại lệ thi Hương, thi Hội, theo đó cứ 3 năm sẽ có một kỳ thi Hội, đây là một bước tiến dài so với thời Trần. Chế độ học quan, học điền ở các phủ, châu cũng được chấn chỉnh lại. Những cải cách mà nhà Hồ thực thi đã được hoàn chỉnh dưới triều Lê Thánh Tông nửa thế kỷ sau đó. 

Sứ mệnh mà nhà Hồ để lại được nhà Lê kế thừa thành công. Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang đánh dấu cho chiến thắng của một triều đại mới, sức mạnh đại diện cho dân tộc mới mà như Nguyễn Trãi đã đúc kết thành lý luận là sức mạnh của “đại nghĩa”, “chí nhân”. Việc nhà Lê thành công trong sự nghiệp mà nhà Hồ đã thất bại và xây dựng một quốc gia dân tộc với thể chế nhà nước chuyên chế quan liêu theo tinh thần Nho giáo, không thể không gắn với một gương mặt trí thức lớn đã góp phần trù hoạch đường hướng từ khi Lê Lợi còn ẩn mình nơi “lam chướng” - Nguyễn Trãi.

Người trí thức cùng với kiến thức mà họ được trang bị luôn có vai trò và sức mạnh to lớn trong việc cải tạo hiện thực. Nguyễn Trãi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cũng như Ngô Thì Nhậm với khởi nghĩa Tây Sơn đều là những nhà trí thức lỗi lạc giúp chuyển xoay lịch sử. Trong bộ chỉ huy tối cao của cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi đứng đầu, Nguyễn Trãi, như Lê Lợi nói, là một “mưu sĩ” (Quân trung từ mệnh tập), hay như Lê Thánh Tông đánh giá là người “giúp việc trù hoạch mưu lược ở nơi màn trướng” (Quỳnh uyển cửu ca). Là một nhà tư tưởng lớn, một chiến lược gia quân sự tài giỏi, Nguyễn Trãi đã góp phần quan trọng tạo nên trí tuệ chung của bộ máy chỉ huy, vạch ra đường lối chủ trương của cuộc khởi nghĩa. Chiến lược “tâm công” của Nguyễn Trãi chính là đường hướng cơ bản cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Sau khi rút kinh nghiệm từ thất bại của nhà Hồ, Nguyễn Trãi dựa vào sức mạnh toàn dân, vận động nhân dân cùng đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tạo nên sức mạnh đoàn kết quật khởi của cả dân tộc, tổ chức và tiến hành chiến tranh nhân dân yêu nước chống ngoại xâm. Tư tưởng đó đã được khởi nghĩa Lam Sơn quán triệt.  

Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên quy mô cả nước. Và, sau 10 năm chiến đấu gian khổ, bền bỉ, mưu trí, đã giành được trọn vẹn. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi chính là lời tuyên cáo chiến thắng của cả dân tộc Việt, được mệnh danh là “áng thiên cổ hùng văn”, đã xác lập nên lý luận cho một nền độc lập tự chủ của đất nước, đồng thời là lời tuyên bố cho sự chính danh của vương triều mới[11]. Đến thời kỳ này, có thể thấy, mọi thắng lợi vĩ đại của dân tộc đều có công lao và cống hiến của những trí thức Nho sĩ lớn. Những khái niệm của Nho gia về mệnh trời, về nhân nghĩa, về dân bản (lòng dân), v.v. đều được Nguyễn Trãi vận dụng sáng suốt, tài tình trong công cuộc cứu nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc. 11

Những dùng dằng và bế tắc cuối đời Trần, giữa một bên là xu hướng bảo thủ nhưng có tinh thần dân tộc với một bên là xu hướng cải cách nhưng lại theo mô hình ngoại lai đã được giải quyết bằng tư tưởng nhân nghĩa, dân bản của Nguyễn Trãi, khẳng định sự thành công thông qua những khảo nghiệm lịch sử khốc liệt. Tư tưởng Nho giáo đã được chủ động lựa chọn vẫn dưới hệ quy chiếu “giữ nước và dựng nước”. Sự trưởng thành của tầng lớp phong kiến Việt Nam và nhu cầu xây dựng đất nước đã đủ sức “tiêu hóa” những tư tưởng vốn bị cho là đi cùng với xâm lược ngoại bang như Nho giáo. Mặc dù phải trải qua những bi kịch cả trong quan trường lẫn nhân sinh đầu nhà Lê, nhưng có thể nhận thấy, những tư tưởng của Nguyễn Trãi vẫn có sức ảnh hưởng lớn, vẫn “đổ bóng” xuống một thời thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến quan liêu Đại Việt, dưới sự trị vì của Lê Thánh Tông[12]. Từ nhà Lê về sau, cùng với việc phát triển mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế quan liêu tập quyền, Nho giáo đã được lựa chọn như một ý thức hệ chính thống thông qua chế độ khoa cử hoàn thiện và sự tôn vinh những người đỗ đạt qua các kỳ thi Nho giáo đạt tới kiểu mẫu cho đời sau noi theo. Nhà nho và tri thức Nho giáo không chỉ cung cấp trang bị kiến thức và người thừa hành trong guồng máy nhà nước, mà còn mang tính chất đại diện cho người trí thức và văn hóa dân tộc. Trong năm thế kỷ đầu của các triều đại phong kiến độc lập đầu tiên của Việt Nam, việc lựa chọn ý thức hệ nào chính là biểu hiện của ý thức độc lập của quốc gia - dân tộc sau khi vừa thoát khỏi ách Bắc thuộc và chiến thắng các cuộc ngoại xâm. Nhà Trần, nhà Lê đều để lại cho lịch sử dân tộc những chiến tích vũ công oanh liệt và văn nghiệp rạng rỡ. Đi cùng với công cuộc giữ nước là công việc dựng nước, mà giáo dục khoa cử là phương thức không thể thiếu để tuyển lựa người tài phục vụ cho nhà nước dân tộc vừa được hình thành. Cùng tiến trình bảo vệ thành quả độc lập và kiện toàn cơ cấu cai trị, các triều đại phong kiến đều có sự rút kinh nghiệm và hoàn thiện chế độ khoa cử so với thời trước, đi cùng với định hướng ý thức hệ rõ ràng cho chế độ tùy vào từng bước phát triển và hoàn cảnh cụ thể của mỗi triều đại: Từ chế độ khoa cử mang tính chất hội thông Tam giáo, tới sự thắng thế của ý thức Nho giáo trong chế độ khoa cử, từ chỗ coi Nho giáo là sự thể hiện của tư tưởng đô hộ ngoại bang, tới việc nhận thấy ở Nho giáo những kiến thức ích dụng cho độc lập dân tộc và vận hành nhà nước đã thể hiện những bước trưởng thành tất yếu của nhà nước phong kiến Việt Nam và tính biện chứng trong tư tưởng yêu nước

Việt Nam. 12

Trần Thị Thúy Ngọc

(Tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam)

 

Tài liệu tham khảo

[1]       Hoàng Xuân Hãn (2003), Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lý, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

[2]       Trịnh Hoành (2014), Tìm hiểu về giáo dục và khoa cử thời xưa, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

[3]       Hoàng Văn Lâu (Dịch, chú thích) (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, t.2, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

[4]       Phan Huy Lê (2011), Tìm về cội nguồn, Nxb Thế giới, Hà Nội.

[5]       Nguyễn Quang Thắng (1993), Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NxbVăn hóa - Thông tin,

Hà Nội.            



[1] Được phong Quốc sư cả hai triều Đinh và Tiền Lê.

[2] Bậc cha chú của một vương triều, như Trần Thủ Độ sau này gây dựng nên nhà Trần, Thiền sư Vạn Hạnh dày công sắp đặt việc lên ngôi của nhà Lý từ dàn xếp dư luận (sấm truyền) tới quân sự (tướng Đào Cam Mộc, Nguyễn Đê) để đưa Lý Công Uẩn, được ông nuôi từ nhỏ trong chùa, lên ngôi.

[3] Hào trưởng, tổ thứ 5 dòng họ Lê ở Châu Ái (Thanh Hóa) răn con cháu: “Gia tộc ta nhiều đời chuyên coi trọng đạo Phật, được các đời vua tôn sùng và ban lộc hiển vinh. Các con nên tu nhân tích đức, học đạo, giảng kinh, nhất thiết dùng đạo đức, văn chương làm tâm phúc, ngõ hầu được lưu danh ngàn đời”. [2, tr.23].

[4] Nhà Ngô mở đầu nền độc lập tự chủ bằng chiến thắng quân Nam Hán, nhà Đinh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, nhà Tiền Lê phạt Tống bình Chiêm.

[5] Theo những ghi chép trong “Đại Việt sử toàn thư”: Nhà Tiền Lê vẫn phải đối diện với nạn cát cứ ngay sau khi Lê Đại Hành mất, tình trạng loạn 12 sứ quân trước thời nhà Đinh dường như lại lặp lại khi các con của Lê Hoàn nổi dậy tranh giành và cát cứ từng vùng, khiến “trong nước không có ai là chủ” (Đại Việt Sử ký toàn thư) là minh chứng cho thấy rõ sự non yếu của thể chế chính trị và các thiết chế tư tưởng đi kèm. 

[6] Ngô Chân Lưu giả làm lái đò tiễn sứ thần nhà Tống Lý Giác, nhà sư Đỗ Thuận nói với vua Lê Đại Hành về vận nước theo tinh thần Đạo giáo: “Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh” (Nhà vua hãy trị nước theo tinh thần vô vi, khắp nơi trong nước sẽ hết chiến tranh).

[7] Cứ đầu năm, bách quan văn võ trong triều phải họp nhau ở đền Đồng Cổ hoặc sân Long Trì, dưới sự chủ trì của vua để làm lễ tuyên thệ: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh giết chết”.

[8] “Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm…Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận” [2, tr.391, 392].  

[9] Sức ảnh hưởng lớn của Phật giáo trong xã hội không chỉ có tác động về mặt tư tưởng, mà còn trở thành thế lực kinh tế - chính trị “từ vương công đến dân thường hễ bố thí vào việc nhà Phật thì dẫu hết tiền của cũng không sẻn tiếc… đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà được tôn sùng hết mực”, trong khi đó, Nho giáo “là để giáo hóa dân chúng, mà rốt cục vẫn chưa được một hương tin theo”.

[10] Chính sách hạn điền, hạn nô là những biện pháp mạnh về mặt kinh tế của Hồ Quý Ly trong cải cách.

[11] Để mở nền muôn thuở thái bình / Để rửa nỗi nghìn thu hổ thẹn / Ôi, một tấm nhung y, dẹp phăng giặc giã, dựng nên công oanh liệt từ đây / Bốn bể phẳng lặng, sạch hết đục nhơ, tuyên bố mệnh duy tân khắp nước. 

[12] Điều này cũng có thể lý giải thêm từ góc độ lịch sử, giữa Nguyễn Trãi với Lê Thánh Tông có mối liên hệ đặc biệt: Mẹ con Lê Thánh Tông được Nguyễn Trãi nuôi giấu trong chùa Huy Văn, và Lê Thánh Tông là người chiêu tuyết cho oan khuất của Nguyễn Trãi.

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1