image banner
            VI | EN
VẤN ĐỀ NHÂN SINH TRONG TRIẾT LÝ THIỀN PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN
Lượt xem: 40

 

TRIẾT HỌC, SỐ 6 (325), THÁNG 6 - 2018

 

Doãn Chính1

1 Phó giáo sư, tiến sĩ, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

 

Tóm tắt: Bài báo tập trung trình bày vấn đề nhân sinh trong triết học thời nhà Trần, qua những quan điểm về giá trị, mục đích, thái độ và hành động sống của con người, về giá trị đạo đức và việc tu luyện trí tuệ, đạo đức, về sự sống và cái chết của con người mang đậm dấu ấn của thiền, với các nhà tư tưởng tiêu biểu, như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông.

Từ khóa: Vấn đề nhân sinh, triết lý thiền, thời kỳ nhà Trần.

 

Trong tư tưởng triết học Phật giáo thời nhà Trần, cùng với những quan điểm về bản thể luận, nhận thức luận là tư tưởng nhân sinh trong triết lý thiền hết sức đặc sắc - trở thành nền tảng tinh thần và đạo đức của xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV. Đó là quan điểm về giá trị cuộc sống, lý tưởng, thái độ và hành động sống, về giá trị đạo đức và về sự sống chết của con người, trên cơ sở lấy tâm và sự giải thoát làm nền tảng và mục đích, bằng phương pháp tu luyện trí tuệ, đạo đức và hành động, gắn với thực tiễn và yêu cầu của xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV, tạo nên bản sắc riêng trong thiền học Việt Nam. Để góp phần làm rõ chủ đề trên, chúng tôi tập trung trình bày tư tưởng nhân sinh, đạo đức trong triết lý thiền của ba nhà tư tưởng lớn thời Trần là Trần Thái Tông (1218 - 1277), Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 - 1291) và Trần Nhân Tông (1258 - 1308).

1. Tư tưởng nhân sinh, đạo đức của Trần Thái Tông

Trên nền tảng tâm học, lấy cái tâm làm xuất phát điểm cho bản thể luận và nhận thức luận trong triết học của mình, Trần Thái Tông đã dành nhiều tâm trí cho vấn đề triết lý nhân sinh, đạo đức, được thể hiện trong hầu hết các trước tác của ông. Kế thừa tư tưởng duyên khởi luận của Duy thức học và quan điểm về nhân vô ngã, pháp vô ngã trong kinh Bát nhã đã phổ biến từ các thiền sư thời Lý, Trần Thái Tông quan niệm rằng, bản thể của vũ trụ, vạn vật là “không”, vạn pháp trong đó có chúng sinh, do duyên khởi nên đều hoàn toàn không có tự tính riêng biệt, “khởi nguồn, tứ đại vốn là không, ngũ uẩn cũng chẳng có” [3, tr.44], do hư vọng mới sinh ra mọi sắc tướng; và bản thể, theo Trần Thái Tông, còn là Phật tính, là Bát nhã thiện căn, Bồ đề giác tính, là bản tâm nguyên lai, thanh tịnh, “hư không”, ai nấy viên thành, người người đều đủ. Nhưng, do vô minh, “vọng niệm”, con người đã lầm tưởng rằng mọi pháp vốn không sinh không hóa thành có sinh có hóa, dẫn đến vọng tưởng, chấp ngã, vị kỷ, “tham sinh uý tử”, nổi lòng tham, tạo nghiệp ác, để thỏa mãn ái dục mong cầu; xa rời cái bản tâm nguyên lai, thanh tịnh, viên thành, “hư không” của mình, “chìm đắm ở bến mê; nổi trôi nơi bể khổ. Mù mù mịt mịt, nào biết nào hay; luẩn quẩn loanh quanh; chẳng giác chẳng ngộ… qua lại sáu đường, xuống lên bốn núi” [3, tr.44].

Với việc lấy cái “tâm hư không” làm gốc, trong quan điểm về đạo đức, mọi vấn đề về quan hệ và chuẩn mực đạo đức, như thiện ác, tốt xấu, phải trái cũng đều được Trần Thái Tông lý giải xoay quanh cái tâm ấy. Ông viết: “Phàm tâm là gốc của thiện ác, miệng là cửa của họa phúc. Nghĩ một ý thì ảnh hưởng không lầm; buông một lời thì hệ quả chẳng lẫn - Phù tâm vi thiện ác vi bản; khẩu vi họa phúc chi môn. Tư nhất niệm hưởng ứng vô sai; khởi nhất ngôn ảnh tuỳ bất mậu [3, tr.100]. Và, vấn đề thiện ác của con người, theo Trần Thái Tông, đều xuất phát từ tâm con người và đều bị chi phối bởi nhân quả, nghiệp báo. Trong bài Bàn về niệm Phật, ông viết: Tâm khởi ư thiện tắc vi thiện niệm. Thiện niệm chi khởi tắc thiện nghiệp báo chi. Tâm khởi ư ác tắc vi ác niệm. Ác niệm chi sinh tắc ác nghiệp ứng chi. Như kính hiện tượng, tự ảnh tùy hình - Tâm khởi dậy điều thiện tức là ý nghĩ thiện. Ý nghĩ thiện khởi dậy thì nghiệp thiện báo lại. Tâm khởi dậy điều ác tức là nghĩ ác. Ý nghĩ ác nảy sinh thì nghiệp ác ứng theo. Như gương hiện ảnh, như bóng theo hình” [3, tr.84-85]. 

Để rèn luyện trí tuệ, tu dưỡng đạo đức, diệt “vọng niệm”, trở về với cái tâm nguyên lai trong sáng, tịch diệt, tức cái “tâm hư không”, đạt tới “Bồ đề giác tính”, trở về với cái “bản lai diện mục”, Trần Thái Tông xây dựng nên cả một hệ thống tu tập cho phù hợp với tính căn riêng của từng người trên tinh thần dung hòa giữa đường lối đốn ngộ và tiệm ngộ, kết hợp “tất cả mọi tịnh giới và thiền định” [3, tr.79], bao gồm cả thuật vấn đáp và niêm tụng kết hợp với niệm Phật, tọa thiền, thực hiện giới - định - tuệ và sám hối, với sự nhận thức vượt lên mọi giới hạn khuôn khổ của nhận thức thông thường, siêu việt hữu vô, văn tự để trực kiến vào tận chân bản thể của vạn pháp và chúng sinh. Trong phép tu thiền, Trần Thái Tông chủ trương dùng phương pháp vấn đáp niêm tụng để giúp người tu thiền mau chóng đi đến giác ngộ. Niêm tụng là hình thức vấn đáp gồm có ba phần: Cử, niêm, tụng, trong đó cử là nêu vấn đề, niêm là giải quyết vấn đề và tụng là tóm tắt, kết luận vấn đề thành bài kệ để đọc tụng. Trần Thái Tông cũng đã lấy sám hối làm phương tiện để tẩy rửa hết mọi dơ bẩn trong tâm của con người, mang tên là Lục thì sám hối khóa nghi chia một ngày đêm ra làm sáu thì, mỗi thì sám hối một căn. Đặc biệt trong hệ thống phương pháp đó, ông lấy giới làm điểm khởi đầu cho mọi qúa trình tu luyện. Ông tự mình viết nên năm bài luận bàn về các giới gồm: Văn răn sát sinh, Văn răn trộm cắp, Văn răn ham sắc, Văn răn nói càn Văn răn uống rượu; nhằm mục đích khuyên răn người đời không nên sát sinh hại vật, tham lam của cải, ham mê sắc đẹp, công danh phú qúy, rượu nồng thịt béo…, dẫn đến “nói năng lầm lỡ. Khí xông nát ruột; vị ngấm hư lòng. Rối loạn tinh thần; hôn mê tâm tính. Hai mẹ cha không nhìn; năm điều ác luôn phạm. Hoặc điếm chợ huyên thiên. Miệng lảm nhảm mà hát ca; thân lõa lồ mà nhảy múa. Chẳng riêng tiếp Phật cúng dàng, những để khăn thâm lệch lạc. Hại thân mệnh từ đó mà sinh; mất nước nhà cũng từ đây mà có” [3, tr.102]…

Ông kêu gọi mọi người nên tích cực làm việc thiện, bố thí cho kẻ nghèo khó, thương yêu người khác, tôn trọng phép nước, kính cha thờ chúa… Trần Thái Tông quan niệm rằng, đây không chỉ là những giới luật để người tu hành phải nghiêm túc tuân thủ, mà còn là những chuẩn mực đạo đức thiết yếu mà mọi người cần thực hiện để giữ gìn sự đứng đắn và sự trong sạch của thân tâm, giúp cho ích nước lợi dân. Trong Văn răn sát sinh, ông nói: “Phàm các loài sinh ra từ trứng, thai, ẩm, hóa, thể tính đều giống nhau; sự hiểu, biết, nhìn, nghe nào khác. Chỉ vì gây nghiệp chứa oan; nên chịu khác tên hiệu. Ngày trước vốn cùng loại nhân luân; nay đã sinh thành bầy khác lạ…, tham sống sợ chết, thành nỗi lo suông; kêu khổ nói thương, thôi đành cũng hết. Ngươi giết kẻ khác thì kẻ khác giết ngươi; nó ăn thịt mày thì mày cũng ăn thịt nó. Hạn kỳ lâu mãi; oan trái còn dài. Đời đời báo oán; kiếp kiếp trả thù. Quay đầu lại, thì về được quê hương; buông thả tâm thì chìm sâu địa ngục (Hồi đầu giả hoàn trước gia hương; túng tâm giả vĩnh trầm địa ngục)” [3, tr.93]. Trong Văn răn trộm cắp, ông cũng viết: “lưới trời lồng lộng, làm điều lành thì thoát, làm điều ác thì vương; phép nước mênh mông, làm vì công được yên, làm vì tư phạm lỗi” [3, tr.95]. Có thể nói, về mặt nhân sinh, đạo đức, Trần Thái Tông đã tập trung vào việc giải quyết các vấn đề như: Tâm, vô thường, thiện ác, nhân quả, nghiệp, sinh tử, khổ, giới, kính cha, thờ chúa, gia hương, địa ngục, hành thiền, giải thoát, Niết bàn… Ông đã phát triển và làm sâu sắc hơn triết lý thiền hành động, nhằm đưa ra con đường mới mẻ đi đến giác ngộ của Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa lòng yêu nước sâu sắc với tinh thần nhập thế cao cả. Như vậy, trong quan điểm về tu thiền, Trần Thái Tông không dừng ở sự kế thừa lặp lại tư tưởng của đời trước, mà ở ông luôn khát khao sáng tạo nên những giá trị mới, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa phù hợp với tinh thần dân tộc, đó là tư tưởng “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm” [3, tr.27]. Trần Thái Tông đã có một bước phát triển mới đi từ quan điểm về “chân Phật” sang quan điểm về “hoạt Phật” - tức Phật sống. Đây là một nét mới chưa từng có trong Phật giáo Việt Nam trước đó. Từ quan điểm “tâm bình thường thị đạo” ở Quốc sư Trúc Lâm, Trần Thái Tông đã phát triển lên thành yếu chỉ của cái tâm “tồn nhi bất tri”, “Dĩ thiên hạ chi dục vi dục; dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm” [3, tr.27], sống hài hòa giữa cuộc đời, vui cái vui của đạo, hành cái hành của bổn phận thế sự, chẳng còn ranh giới nào nữa giữa việc khoác lên mình tấm long bào hay chiếc áo nâu sồng, giã biệt mọi đối đãi thị phi, ấy là ngộ đạo, ấy là hoạt Phật. Quan điểm hành thiền tại thế mà Trần Thái Tông đề cập ở đây còn là đem đạo vào đời, là dụng cái thâm diệu của đạo vào tận cái hoạt của thế sự muôn màu, để hóa thân một cách tràn đầy và sinh động.

Về vấn đề sinh tử, so với các thiền sư thời Lý, Trần Thái Tông đã có bước phát triển mới hơn ở chỗ, coi sinh tử không còn là vấn đề mang tính thuần lý, cao siêu, trừu tượng nữa, mà nó chính là bản thân cuộc sống thực của mỗi người, với thái độ tự tại, ung dung, hài hòa giữa tâm vật và tâm ta. Đối diện với vấn đề sinh tử, người đạt ngộ chẳng chút mảy may sợ sệt, cái chết với họ nhẹ tựa lông hồng; họ cũng không còn dừng lại ở sự loay hoay coi sinh tử là vấn đề trọng đại nữa, mà vượt lên đó, xem nó như lẽ tự nhiên thường tình của đời người. Từ thái độ sống tự tại, không lầm sinh tử này, Trần Thái Tông nâng nên thành một phương châm độc đáo: “Sống thiền” - vui với cái vui của sự hiểu biết chân thực, hòa với cái vô cùng tận của cuộc đời để xác lập nên một con đường đi đến giác ngộ của thiền học Việt Nam. Đó là con đường cứu dân độ thế, đem đạo vào đời, chứa đựng ý nghĩa nhân văn cao đẹp.

2. Tư tưởng triết lý nhân sinh, đạo đức của Tuệ Trung Thượng sĩ

Tư tưởng triết lý nhân sinh, đạo đức
của Tuệ Trung Thượng sĩ nổi bật lên một tinh thần phá chấp triệt để. Tuệ Trung Thượng sĩ quan niệm rằng bản thể của thế giới là tuyệt đối, viên mãn, sâu kín, hàm chứa trong vạn pháp. Bản thể là cái chất ban đầu, là gốc rễ căn bản của vạn vật; là cái vô, cái không, là tính không (sunya), là cái “như nhiên tự không tịch” [3, tr.272]... Nhưng vì do nhị kiến nên con người mới có cái nhìn phân biệt, đối đãi, sa vào chấp tướng, chấp ngôn ngữ. Vì thế, theo ông, mọi sự đối lập giữa mê và ngộ, sắc và không, giữa phàm và thánh, giữa ta và người, Phật và chúng sinh, phải và trái, chính và tà, phiền não và bồ đề v.v., thực chất chỉ là sự đối lập mang tính giả tạo. Con người do vô minh, tham dục cứ vin vào sự đối đãi ấy mà cầu tìm thì chẳng khác gì hình ảnh con hươu khát nước chạy giữa sa mạc, thấy ảo ảnh của hồ nước, cứ mãi đuổi tìm cho đến lúc gục ngã vì chết khát.

Muốn đạt đến giải thoát, theo Tuệ Trung Thượng sĩ, người tu thiền không những phải phá bỏ nhị kiến mà căn cốt hơn là phải xả bỏ hết mọi vọng niệm, bởi vì nếu còn chút vọng niệm trong tâm thì con người vẫn còn chấp trược, vị ngã, vướng vào tam độc, dẫn đến hành động tạo nghiệp, và hậu quả là con người mãi mắc kẹt trong vòng luân hồi sinh tử, không tìm được đường về với bản thể nguyên lai, với gương mặt mẹ nguyên sơ (“nương sinh diện”) của mình. Chỉ khi nào con người đạt đến cảnh giới vượt lên mọi phân biệt đối đãi thị phi, phàm thánh thì khi đó con đường về với quê hương bản tâm mới rộng mở để đón nhận bậc đắc đạo vào ra cuộc đời một cách tự tại, ung dung, vượt ngoài mọi muộn phiền, chấp trược.

Nếu Trần Thái Tông cho rằng muốn đạt đến giải thoát, người tu Phật cần phải thực hiện nghiêm các phương pháp thiền định, tịnh giới có tính tiệm tu theo Lục thì sám hối khóa nghi và Văn răn ngũ giới để giữ thân tâm hư không, trong sạch, xả bỏ mọi vọng niệm, thì Tuệ Trung Thượng sĩ, do ảnh hưởng tư tưởng Lão Trang đã đưa ra một phương pháp tu thiền khá độc đáo bằng việc sống hòa đồng với tự nhiên, tùy nghi theo thói tục mà hành thiền với cái tâm tự do tự tại, ung dung không vướng vào chấp trược, nhị kiến, buông xả tất cả, không còn bị vật dục sai khiến, ràng buộc, phá chấp triệt để, không biến mình thành nô lệ của giới luật. Ông không quan tâm đến việc ăn chay hay ăn mặn, niệm Phật với tọa thiền, trì giới và nhẫn nhục. 

Trì giới kiêm nhẫn nhục,

Chiêu tội bất chiêu phúc.

Dục tri vô tội phúc,

Phi trì giới nhẫn nhục” [3, tr.290].

Tuệ Trung Thượng sĩ sống một cuộc đời phóng khoáng, tiêu dao của bậc thiền giả đắc đạo, rong chơi ngoài cõi thế, thoát ly khỏi bụi trần, vào ra cuộc đời mặc lòng mà không bị sóng gió cuộc đời vùi dập, cuốn trôi. Ông thích một cuộc sống tự do, thanh tao nơi non xanh nước biếc, gió mát trăng thanh, làm bạn với thiên nhiên cây cỏ:

“Cơ tắc xan hề hòa la phạn,

Khốn tắc miên hề hà hữu hương,

Hứng thời xuy hề vô khổng địch,

Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương.

Quyện tiểu khế hề hoan hỷ địa,

Khát bão xuyết hề tiêu dao thang.

Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý,

Mệt thì ngủ chừ, làng không làng!

Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,

Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương!

Mỏi nghỉ tạm chừ, đất hoan hỉ,

Khát uống no chừ, nước thênh thang” [3, tr.278-280].

Đối với Tuệ Trung Thượng sĩ, đạo và đời không tách rời nhau, đạo cũng là đời và ngược lại. Ông đã xem cuộc đời này là nơi tốt nhất để tu đạo, hành thiền và đạt đến giải thoát. Ông đã thể hiện rõ quan điểm này trong bài Dưỡng chân:

“Suy táp hình hài khởi túc vân,

Phi quan, lão hạc tị kê quần,

Thiên thanh vạn thuý mê hương quốc,

Hải giốc thiên đầu thị dưỡng chân.

Tấm thân suy yếu kể chi mà,

Hạc nội nào đâu lẩn tránh gà.

Muôn tía nghìn xanh tràn đất nước,

Chân trời góc bể dưỡng chân ta” [3, tr.226].

Với tinh thần phá chấp vượt lên mọi giáo điều, khuôn phép, giới luật thông thường chứng tỏ Tuệ Trung Thượng sĩ đã nắm được nhu yếu tinh túy nhất của thiền, đó là tạo được cái tâm tuyệt đối thanh tịnh, an nhiên, tự tại, không vọng động, không bám vào bất cứ điều gì cả dù là tín điều, giới pháp, Phật, Tổ hay thậm chí cả bản thân sự phá chấp nữa, ngay trong thế tục hồng trần. Đây cũng chính là cái “tâm vô sở trụ” mà Lục Tổ Huệ Năng và Trần Thái Tông từng chứng đắc trước đó. Trong bài Thủ nê ngưu (Giữ con trâu đất), Tuệ Trung Thượng sĩ đã dùng hình ảnh đối lập giữa một bên là con trâu đất để chỉ những người tu thiền mà còn vướng vào các chấp, bị kiến giải, giáo lý, trói buộc, “xỏ mũi” dắt đi làm cho đường đến giác ngộ ngày càng mờ mịt, với một bên là hình ảnh bậc thiền giả đã chứng đắc như quả cầu cuộn trôi theo dòng nước, buông xả tất cả, hòa vào cái mênh mông, vô tận của sông nước. Ông viết:

“Nhất thân độc thủ nhất nê ngưu,

Đằng tỵ khiên lai vị khẳng hưu.

Tương đáo Tào Khê đô phóng hạ,

Mang mang thủy cấp đả viên cầu

Một mình giữ một con trâu đất,

Xỏ mũi lôi theo chẳng chịu rời.

Vừa tới Tào khê buông thả quách,

Mênh mông nước cuộn, quả cầu trôi
[3, tr.227].

Trong quan niệm nhân sinh, Tuệ Trung Thượng sĩ cũng rất quan tâm đến việc lý giải tận gốc vấn đề sinh tử. Về quan điểm này, ông đã đem đối lập hai quan niệm khác nhau về sinh tử: Một đằng là quan niệm coi sinh tử là vấn đề trọng đại của đời người và đằng khác là quan niệm coi sinh tử chỉ là lẽ thường tình mà thôi. Ở quan niệm thứ nhất, chính do mê lầm, tưởng ảo hóa là thật, cho rằng sinh tử là vấn đề trọng đại, luôn cảm thấy nơm nớp sợ hãi, ám ảnh không nguôi về nó, luôn điên đảo vì nó và khao khát tìm đến phương thuốc trường sinh bất tử để kéo dài cuộc sống, đó là quan niệm của phàm nhân. Còn đối với bậc đắc đạo, họ hiểu rằng, thân xác con người chẳng qua chỉ là sự giả hợp của tứ đại và ngũ uẩn, bởi nhân duyên mà thành. Nhân duyên hợp thì gọi là sinh, nhân duyên tan thì gọi là tử. Theo ông, sống chết nảy sinh do sự lầm lạc, mê kiến của chính con người, chúng giống như những đợt sóng nhấp nhô trên biển cả tâm thể mà thôi. Tâm thể phẳng lặng yên tĩnh thì sinh, tử cũng tự nhiên biến mất. Cho nên ông an nhiên, bình thản đón nhận sự sống, chết như một lẽ thường tình mà thôi:

Sống là sống dối, chết là chết dối,

Tứ đại vốn không, từ đâu nổi ?

Đừng như hươu khát rượt “bóng sông”

Chạy quàng không nghỉ, khắp Tây Đông.

Pháp thân không qua cũng không lại,

Đến nhà, thôi chớ hỏi con đường,

Thấy trăng, tìm gì ngón tay chỉ.

Người ngu, điên đảo tử và sinh,

Bậc trí, tử sinh thường thôi vậy” [3, tr. 283].

Trong bài Sinh tử nhàn nhi dĩ, Tuệ Trung Thượng sĩ viết:

Tâm chi sinh hề sinh tử sinh,

Tâm chi diệt hề sinh tử diệt.

Sinh tử nguyên lai tự tính không,

Thử huyễn hoá thân diệc đương diệt.

Khi tâm sinh chừ sinh tử sinh,

Khi tâm diệt chừ sinh tử diệt.

Sinh tử xưa nay tính vốn không,

Hư huyễn thân này rồi cũng hết

Sinh tự vọng sinh tử vọng tử,

Tứ đại bản không tòng hà khởi?

Sống là sống dối, chết là chết dối,

Tứ đại vốn không, từ đâu nổi?” [3, tr.282-283].

Vì có điểm khác nhau như vậy nên khi đối diện với sinh tử, kẻ ngu thì sống chết mãi lo, còn người trí thì rõ thông nhàn thôi vậy. “Ngu nhân điên đảo bố sinh tử. Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ”. Cũng chính vì xem sinh tử là thông nhàn, thảnh thơi mà Tuệ Trung Thượng sĩ đã có cái nhìn tích cực với cuộc đời. Trên tinh thần ấy, tôn chỉ thiền của Tuệ Trung Thượng sĩ không chỉ gói gọn trong tu thiền, tham vấn Phật học, mà quan trọng hơn đó là sống thiền. Ông quan niệm thiền giả không nên câu nệ cứng nhắc trong việc hành thiền, mà nên tùy duyên để hành đạo và lạc đạo, đưa thiền vào gần gũi đời sống hàng ngày để đón nhận cái hạnh phúc thoải mái, bình dị của chính cuộc sống thường nhật. Trong bài Vật bất năng dung, Tuệ Trung Thượng sĩ viết:

“Khoả quốc hân nhiên tiện thoát y,

Lễ phi vong dã, tục tuỳ nghi.

Vào xứ mình trần bỏ áo đi,

Phải đâu quên lễ, chỉ tùy nghi” [3, tr.257].

Với Tuệ Trung Thượng sĩ, thiền giả không được xa lánh cuộc đời; trái lại, cần phải dấn thân vào nó, xem cuộc đời là nơi thử thách, tôi luyện con người. Trong lò lửa hồng của cuộc đời, đóa sen vàng Phật pháp vẫn tỏa sáng góp hương làm đẹp cho đời. Trong bài Phật tâm ca, Tuệ Trung Thượng sĩ đã thể hiện rõ quan niệm của mình về hành thiền. Ông viết:

“Hành diệc thiền,

Toạ diệc thiền.

Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên.

Đi cũng thiền,

Ngồi cũng thiền,

Trong lò lửa đỏ một bông sen” [3, tr.273].

Như vậy, trong vườn thiền Việt Nam, bên cạnh tập đại thành triết học Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ vẫn thể hiện tiếng nói riêng của mình với những quan niệm mới, độc đáo và sâu sắc từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thiền học Việt Nam với tinh thần nhập thế, hành thiền, phá chấp và phong cách tiêu dao, phóng túng của Lão Trang.

Chính với phong cách thiền độc đáo này mà Tuệ Trung Thượng sĩ đã được Trần Nhân Tông hết lòng ca ngợi trong Thượng sĩ hành trạng: “Tuệ Trung Thượng sĩ trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, chứ không trái hẳn với người đời. Nhờ đó mà nối theo được hạt giống pháp, và dìu dắt được kẻ sơ cơ. Người nào tìm đến hỏi han, người cũng chỉ bảo cho biết điều cương yếu, khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính hành tàng, không rơi vào danh hay thực” [3, tr.545].

3. Tư tưởng triết lý nhân sinh, đạo đức của Trần Nhân Tông

Trong hệ thống tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông, nếu ở vấn đề thế giới quan, ông chủ yếu khai thác, tiếp thu và thể hiện khá sâu sắc thế giới quan “vô thường”, “vô ngã”, “duyên khởi”, khẳng định bản tính “không” của vạn pháp và quan điểm về “tâm” của Phật giáo, với quan niệm “tâm tĩnh lặng”, thì ở vấn đề nhân sinh quan, ngoài quan điểm cốt yếu của Phật giáo, ông còn kết hợp nhuần nhuyễn với những yếu tố triết lý đạo đức nhân sinh của Nho giáo, hòa quyện quan điểm của Đạo giáo và là sự tổng hợp quan điểm của Thiền và Tịnh độ.

Có thể nói, toàn bộ dòng tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông được bắt đầu từ tâm và kết thúc cũng ở tâm tĩnh lặng. Vì thế, trong triết học Trần Nhân Tông, quan điểm về thế giới cũng như quan điểm về nhân sinh của ông đều mang đậm dấu ấn của triết lý thiền. Theo Thiền học nói chung và theo Trần Nhân Tông nói riêng, vấn đề cốt yếu và mục đích cao cả nhất của thiền là đạt tới cái tâm thanh tịnh, bản nhiên, hư không, tĩnh lặng, đó là bản thể của vạn pháp. Nếu ở phái Vinitarici là “tâm ấn”, Vô Ngôn Thông là “tâm địa”, Trần Thái Tông là “tâm hư”, Tuệ Trung Thượng sĩ là “tâm thể” thì ở Trần  Nhân Tông là “tâm tĩnh lặng”. Đạt được cái tâm đó mới chính là vấn đề quan trọng nhất của đời sống con người nói chung và vấn đề nhân sinh, đạo đức nói riêng. Tuy nhiên, Trần Nhân Tông hiểu rõ cuộc đời là vô thường và rất ngắn ngủi, cho nên để đạt tới cái “tâm tĩnh lặng” ấy thì cách tu thiền tốt nhất không phải chỉ là “tĩnh lự” mà là “hành thiền”, không phải chỉ là tu dưỡng, rèn luyện cho cá nhân, đào sâu trong thế giới nội tâm mà là thiền nhập thế, tích cực, với ý nghĩa rộng lớn và sâu xa nhất. Chính tinh thần thiền hành động, nhập thế, tích cực này đã đưa thiền phái Trúc Lâm mà người sáng lập là Trần Nhân Tông đến đỉnh cao của sự phát triển Phật giáo đời Trần và là đại biểu cho Thiền học Việt Nam với diện mạo, sắc thái riêng. Vì thế, trong triết lý của mình, Trần Nhân Tông luôn gắn vấn đề nhân sinh với vấn đề lợi ích của dân tộc, cho rằng làm trai quyết phải trả nợ nước non, rằng sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu. Điều đó đã được ông thể hiện rõ trong bài thơ Họa thơ Kiều Nguyên Lãng:

Phiêu phiêu hành lý lĩnh vân nam,

Xuân nhập mai hoa chỉ lưỡng tam.

Nhất thị đồng nhân thiên tử đức,

Sinh vô bổ thế trượng phu tàm” [3, tr.477].

Trong cuộc đời mình, dù làm vua hay làm thiền sư, Trần Nhân Tông đã cống hiến toàn bộ trí tuệ, sức lực, sự nghiệp của mình cho đời và cho đạo, và lúc nào ông cũng canh cánh nỗi lo cho dân cho nước (ưu quốc). Lòng “ưu quốc” ấy được ông thổ lộ trong bài Tiễn sứ Bắc Ma Hạp, Kiều Nguyên Lãng rằng:

“Đỉnh ngữ nguyện ôn Trung Thống chiếu,

Miễn giao ưu quốc mỗi như đàm.

Trung Thống, chiếu xưa, lời hãy nhớ,

Nỗi lo đất nước, dịu lòng tôi” [3, tr.479].

Với tấm lòng luôn lo cho dân, cho nước, Trần Nhân Tông đã sang Chiêm Thành, hứa gả công chúa cho vua Chiêm để giữ mối giao hòa cho hai nước; và khi đất nước sạch bóng quân thù, ông đã nghĩ ngay đến dân để thực hiện “khoan thư sức dân”. Cũng chính vì tấm lòng yêu nước thương dân, lo sợ con người dễ bị đánh mất gốc, lạc vào đường ác, nên khi đã hiểu rõ chỗ thâm sâu vi diệu và lĩnh hội được cái cốt lõi tinh túy của Thiền học, Trần Nhân Tông đã vân du khắp nơi, đến nhiều chùa chiền trong nước, mở lớp thuyết pháp dạy dân chúng khắp các thôn quê thực hành Mười điều thiện: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm (ba điều thiện về hành động); 4. Không nói dối; 5. Không nói lời chia rẽ; 6. Không nói lời độc ác; 7. Không nói lời bẩn thỉu (bốn điều thiện về lời nói); 8. Không tham lam; 9. Không giận dữ; 10. Không tà kiến (ba điều thiện về ý nghĩ).

Một trong những vấn đề lớn trong cuộc sống con người được tất cả các nhà tư tưởng từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, trong đó có triết lý Phật giáo quan tâm đó là vấn đề sống chết của con người. Cũng như Lão Tử, về vấn đề sống chết, Trần Nhân Tông đã nhìn thấy rằng:

Sinh có nhân thân,

Ấy là họa cả.

Ai hay cốc được,

Mới ốc là đã” [3, tr.532].

Nghĩa là: Sinh ra có thân mình ấy là họa lớn. Ai hay được điều đó, mới gọi là giác ngộ. Vì người ta sinh ra có thân thể, hình hài nên sự hợp tan, họa phúc, sống chết của con người là lẽ thường. Do vậy, theo Trần Nhân Tông, người ta cần phải vượt qua cái hình hài tạm bợ của mình. Hơn thế nữa, do thấm nhuần triết lý “vô thường”, “vô ngã” của Phật giáo, Trần Nhân Tông cho rằng mọi pháp đều không sinh, mọi pháp đều không diệt; cho nên trong cuộc đời, con người cần chấp nhận và vượt lên trên sự sống chết, không cần quan tâm nhiều đến hình hài, thể xác, đến còn mất, sống chết, mà điều cần quan tâm, chú trọng và đề cao nhất đó là ý nghĩa, giá trị đạo đức; ý nghĩa, giá trị cuộc sống và thái độ sống của con người. Người ta chỉ đạt được ý nghĩa và giá trị cao cả ấy bằng cái tâm trong sạch, tịch diệt, không vọng động - “tâm tĩnh lặng”, qua con đường tu luyện trí tuệ và đạo đức của mình, kết hợp cả Nho, Lão, Phật, lấy Thiền học làm nòng cốt, như công danh chẳng trọng, phú quý chẳng màng; gìn tính sáng, nén vọng niệm; dứt trừ nhân ngã, dừng hết tham sân; xét thân tâm, rèn tính thức; cầm giới hạnh, ăn rau trái, vận giấy sồi; trọng đạo nghĩa, lánh thị phi; giác tính sáng trong, thân tâm vui vẻ, rũ hết trần duyên, chẳng còn bỉ thử; tranh nhân chấp ngã, thị phi chẳng hề; ngồi trong trần thế, chẳng quản sự thay; săn hỷ xả, nhuyến từ bi, rèn lòng làm bụt; sạch giới lòng, chùi giới tướng; ngay thờ chúa, thảo thờ cha; tham thiền, kén bạn, xem kinh, đọc lục, học đạo, thờ thầy… [3, tr.505-508].

Khác với Tuệ Trung Thượng sĩ coi “sinh tử nhàn nhi dĩ” (sống chết là lẽ thường), trong triết lý nhân sinh của mình, Trần Nhân Tông đã trình bày quan niệm về sinh diệt trong bài kệ trước khi viên tịch như sau:

Mọi pháp đều không sinh,

Mọi pháp đều không diệt.

Nếu hiểu được như thế,

Chư Phật thường hiện tiền;

Chẳng đi, cũng chẳng lại” [5, tr.33].

Theo Trần Nhân Tông, vấn đề sinh, tử hiểu theo nghĩa rộng chỉ tính chất vô thường, huyền ảo của thế giới hiện tượng, nhưng bản chất của nó là hư không, chẳng sinh, cũng chẳng diệt, chẳng đi, chẳng đến, không đầu, không cuối, vô thủy, vô chung. Tuy nhiên, giữa thế giới hiện tượng và bản chất không có gì khác biệt, ngăn cách cả, chúng là một. Vấn đề quan trọng là ở cái tâm. Cùng một hoàn cảnh đời sống, bằng cái tâm tĩnh lặng, hư không thì thấy sinh, tử là Niết bàn, tâm là Phật, phàm là thánh, tất cả là một. Còn nếu bằng cái tâm vọng động thì sắc tướng nổi lên, thị phi hiển hiện, sinh tử đối đãi, sinh là sinh, tử là tử. Tất cả là một hay tách biệt đối đãi đều do cái tâm mà ra cả. Tư tưởng trên của Trần Nhân Tông thống nhất với tư tưởng của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ. Còn theo nghĩa hẹp, lẽ sinh, tử được Trần Nhân Tông hiểu là cái có tính chất vô thường, ngắn ngủi của cuộc sống con người, nó như “hơi thở qua buồng phổi” mà thôi. Theo Trần Nhân Tông, con người không thể tránh khỏi sinh tử và vòng nhân quả để tìm Niết bàn, mà ngược lại phải ở ngay trong sinh tử để thấu hiểu bản tính của nó rằng sinh tử là lẽ thường của cuộc đời con người và để nhận ra sinh tử là không sinh, không tử. Vì thế, vấn đề sinh, tử không phải là chuyện vô ích, mà là vấn đề lớn, quyết định đến thái độ sống của hành giả. Thái độ sống của Trần Nhân Tông trước cuộc đời vô thường và ngắn ngủi là tích cực, sống hết mình, không để thời gian trôi qua một cách vô ích. Tư tưởng này được ông thể hiện rõ bằng bài kệ tại chùa Sùng Nghiêm:

Thân như hơi thở trong mũi khi hô hấp,

Cuộc đời như đám mây bay theo gió ngoài núi xa.

Chim quyên kêu đã bao ngày tháng,

Chớ để luống qua mùa xuân một cách tầm thường”.

Trần Nhân Tông cho rằng, cần chấp nhận sự sinh tử như một lẽ thường nhiên, thái độ tích cực ở đây là không lầm và chấp vào huyễn ảo của sinh tử, nhưng không chạy trốn nó mà lấy chính nó là cơ sở, môi trường để hành đạo. Cần phải sống giữa đời, giải quyết những thách đố của đời thường, “tùy duyên mà hành đạo”. Sống tùy tục, trộn lẫn với đời thường cũng chính là sống hành động với cái tâm hướng thượng. Theo Trần Nhân Tông, sự giác ngộ cần phải được thực hiện ngay trong vòng sinh tử, thiền gia phải sống hết mình để thực hiện giải thoát ngay khi còn sống. Vì thế, mọi hoạt động xã hội như hoạt động quân sự, chính trị, tôn giáo đều là sự hành thiền cả. Thiền gia chỉ đắc đạo ngay giữa đời thường, như hoa sen chỉ thanh cao nơi thấp ướt bùn lầy.

Tóm lại, với tư tưởng của ba nhà thiền học tiêu biểu, triết lý nhân sinh đặc sắc của Phật giáo thời kỳ nhà Trần đã không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển nền triết học thiền Phật giáo Việt Nam lên một trình độ và tính chất mới, phong phú, sâu sắc, sinh động, mang đậm dấu ấn và bản sắc Việt Nam - thiền hành động, nhập thế, tích cực; xây dựng nên một nền Phật giáo Việt Nam thống nhất, mà còn là nền tảng đạo đức của xã hội, là ngọn cờ tư tưởng đoàn kết toàn dân tộc, nhằm xây dựng một nước Đại Việt thống nhất, hùng mạnh, một nền văn hóa Đại Việt độc lập, rực rỡ; thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai, góp phần đánh thắng ba lần xâm lăng của giặc Nguyên - Mông.

 

Tài liệu tham khảo

[1]    Trần Thái Tông (1974), Khoá hư lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2]     Viện Sử học (1978), Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[3]     Viện Văn học (1989), Thơ văn Lý - Trần, t.2, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[4]     Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1978), Đại Việt sử ký toàn thư, t.2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[5]     Tam tổ thực lục (1995), Viện nghiên cứu Phật giáo Việt Nam.

 

                

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1