Tóm tắt: Vương
đạo - bá đạo là một trong những chủ đề căn bản của chính trị luận Nho giáo. Nho
học truyền thống nhìn chung thống nhất ở quan điểm rằng vương đạo - con đường
cai trị bằng đạo đức và giáo hóa - là đường lối chính trị lý tưởng; ngược lại,
bá đạo - con đường cai trị bằng luật lệ, phép tắc, các thủ đoạn chính trị - là
đường lối chứa đựng những tệ đoan và tiêu cực. Lê Quý Đôn là nhà nho về mặt
nguyên tắc rất tuân thủ các quan niệm truyền thống, nhưng lại có cái nhìn tương
đối cởi mở về vương đạo và bá đạo. Ông không xem bá đạo đối lập với vương đạo
mà còn khẳng định và chấp nhận ở những mức độ nhất định đối với bá đạo. Quan
điểm ấy của Lê Quý Đôn chịu ảnh hưởng từ những xu hướng chính trị và tư tưởng
của thời đại, nhưng phần nhiều là kết quả của óc tư duy linh hoạt và thực tế của bản thân ông.
Từ khóa: Lê Quý Đôn, vương đạo, bá đạo.
--------------
Nho học Việt
Nam có một đặc điểm xuyên suốt là sự quan tâm mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị.
Kể cả trong thời kỳ thế kỷ XVIII, Nho học có bước chuyển sang quan tâm đến các
vấn đề kinh học [Xem: 1, tr.51-101], thì đạo đức và chính trị vẫn là những chủ
đề hàng đầu. Điều này có thể thấy rõ trong tư tưởng của Lê Quý Đôn (1726-1784),
nhà tư tưởng lớn của thời kỷ này. Mặc dù Lê Quý Đôn là một trong số ít các Nho
học giả Việt Nam có lý luận về bản thể một cách tương đối hệ thống, nhưng những
chủ đề lớn nhất trong tư tưởng của ông vẫn là chính trị và đạo đức.
Tư tưởng chính
trị của Lê Quý Đôn bao quát hầu hết các vấn đề quan trọng nhất của tư tưởng
chính trị Nho giáo nói chung và vừa thể hiện lối tư duy thực tiễn độc đáo của
bản thân ông, vừa cho thấy những đặc điểm của chính trị đương thời cả ở góc độ
lý luận lẫn góc độ thực tiễn. Trong số đó, các lập luận của ông về vương đạo và
bá đạo có thể coi là tiêu biểu.
Trong lịch sử
phát triển của tư tưởng chính trị Nho giáo, vương đạo bắt đầu xuất hiện trong Kinh
thư, sau đó dưới ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử về đức trị, quan điểm vương
đạo và bá đạo được hình thành với tư cách thuật ngữ. Các nhà tư tưởng tiêu biểu
bàn về vương đạo và bá đạo gồm có Mạnh
Tử, Tuân Tử, Chu Hi[1].
Có thể thấy, ban đầu thuật ngữ “Vương đạo” được sử dụng theo nghĩa “chủ thể của
hoạt động”: Vương đạo tức là đạo của người làm vua. Sau đó, cùng với sự phổ
biến của quan điểm về đức trị và mối quan hệ chặt chẽ giữa đức trị với chính
trị, và sự xuất hiện của quan điểm bá đạo, lý luận về vương đạo - bá đạo hình
thành với nghĩa “tính chất của hoạt động”: vương đạo là dùng đức để cai trị, bá
đạo là dùng các thủ đoạn và giả nhân nghĩa để cai trị.
Về thái độ của
các nhà nho đối với đường lối vương đạo và bá đạo, tất cả Nho học giả dù ở trào
lưu Nho học nào cũng đều ủng hộ vương đạo và xem đó là đường lối cai trị lý
tưởng. Nhưng đối với bá đạo, thì quan điểm có sự phân hóa: Có những người cho
rằng bá đạo là đáng lên án (ví dụ Mạnh Tử), có những người cho rằng bá đạo vẫn
có những giá trị nhất định và có thể sử dụng được (ví dụ Tuân Tử). Chu Hi,
người ảnh hưởng lớn nhất đến Nho học giả hậu sinh (từ thế kỷ XIII trở đi) thì
cho rằng đường lối bá đạo là mạt đoan, tuy vẫn có thể sử dụng, nhưng quan trọng
là phải đề cao và nhấn mạnh cái căn bản (vương đạo, đức trị). Thái độ này khiến
cho phần lớn các nhà nho về sau trở nên quá chú trọng đến vương đạo mà coi
khinh bá đạo.
1. Quan điểm của Lê Quý Đôn về vương đạo,
bá đạo và mối quan hệ giữa chúng
Lê Quý Đôn
(1726-1784) vốn là nhà nho tuân thủ trung thành các lý luận của Tống Nho [xem:
4, “Lời tựa”, tr.46-47]. Vì thế, trong vấn đề vương đạo và bá đạo - vốn là vấn
đề có sự thống nhất cao độ giữa các nhà nho, đặc biệt trong Nho học quan
phương, có thể bước đầu nhận xét rằng Lê Quý Đôn cũng theo sát tư tưởng của
Tống Nho mà Chu Tử là đại biểu. Tuy nhiên, xem xét kỹ các phát biểu trong các
trứ tác còn lại của ông, ta sẽ thấy có những khác biệt đáng chú ý.
Trong số các
sách vở còn lại của Lê Quý Đôn, những sách đề cập một cách trực tiếp và gián
tiếp đến quan điểm vương bá có thể kể đến là Quần thư khảo biện (lời tựa viết
năm 1757), Thánh mô hiền phạm lục (được soạn trước khi đi sứ 1760), Thư kinh
diễn nghĩa (lời tựa viết năm 1772) và Vân đài loại ngữ (lời tựa viết năm 1773).
Theo các thư tịch này, có thể phỏng đoán, vấn đề
vương - bá được Lê Quý Đôn quan tâm đến trong hầu hết các giai đoạn hoạt động
trứ thuật của ông.
Quan điểm về
vương đạo và bá đạo của Lê Quý Đôn thể hiện trước hết trong các phát biểu làm
rõ bản chất của vương đạo và qua đó phân biệt vương đạo với bá đạo. Khi diễn
nghĩa Kinh thư, ông giải thích luận điểm về vương đạo của thiên “Hồng phạm” như
sau: ““[Hết thảy thiên hạ, dân chúng] chớ thiên tư, chớ đảng phái, [hãy nhìn
xem] đạo nhà vua quảng đại lâu dài. Chớ đảng phái, chớ thiên tư, [hãy nhìn xem]
đạo nhà vua công bằng giản dị. Chớ tráo trở, chớ phản trắc, [hãy nhìn xem] đạo
nhà vua chính trực”. Đó là đạo Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ dùng trị thiên
hạ vậy. Vương đạo đại khái như thế, bá đạo thì trái ngược lại; nếu muốn phân
biệt vương với bá khác nhau thế nào, thì cứ dùng lời này để khảo sát việc làm
của người cai trị là đủ” [2, tr.159].
Có thể thấy
câu trích dẫn mà Lê Quý Đôn đưa ra chính là định nghĩa đầu tiên trong Nho học
về vương đạo. Trong định nghĩa đó, vương đạo mới chỉ được xem xét như là đạo
của người làm vua, là đường lối cai trị dựa trên sự chính trực và công bằng. Lê
Quý Đôn không dừng lại ở ý nghĩa đó, ông đã diễn giải thêm về “đạo công bằng,
chính trực”: “Vua thể theo lòng trời, lập ra chính trị, tuyên dương giáo hóa,
chấn chỉnh phong tục, tác thành nhân tài, quý chuộng người hiền năng, thương
người nghèo yếu mà dẹp kẻ cường hào, bồi dưỡng người thiện mà gạt bỏ kẻ ác, hết
thảy đều là đạo công bình chính trực, không gì không phải là lẽ thường phép lớn
vậy” [2, tr.159].
Theo đó, “đạo
công bằng chính trực” - vương đạo - là toàn bộ các khía cạnh của đức nhân và
giáo hóa được áp dụng vào hoạt động chính trị. Như vậy, có thể nói, khi diễn
giải Thư kinh, Lê Quý Đôn đã bổ sung thêm vào định nghĩa vương đạo của Thư kinh
các yếu tố của vương đạo theo quan điểm của Mạnh Tử và các nhà nho sau này.
Như chúng ta
đã xem xét, từ sau Chu Hi, việc đặc biệt nhấn mạnh các vấn đề tu thân và đức
trị đã khiến nhiều Nho học giả đi đến chỗ cực đoan, tuyệt đối hóa đức trị và
giáo hóa, bỏ qua các yếu tố thưởng phạt và pháp luật trong đạo trị nước. Lê Quý
Đôn phê phán thái độ cực đoan ấy. Theo ông, vương đạo không có nghĩa là chỉ
dùng đức và giáo hóa. Ông viết: “Ngu này cho rằng hai chữ “đức” và “hình” giống
như âm với dương không thể bỏ đi một bên được. Chỉ có thể là dùng đức nặng hơn
và dùng hình nhẹ hơn mà thôi, chuyên chú làm cho người ta thấm nhuần đạo đức,
khỏi sa ngã vào tội lỗi, đến khi cần dùng hình phạt lại đem lòng khoan hậu nhân
từ mà thi hành, đấy là vương đạo” [2, tr.179]. Theo đó, vương đạo là sử dụng
đức để thi hành chính trị, nhưng tu thân và giáo hóa không phải là toàn bộ
vương đạo. Trong đường lối của kẻ đế vương, vẫn có chỗ của pháp luật, hình
phạt; pháp luật vẫn rất cần thiết, bổ trợ cho đức trị và giáo hóa. Có thể nói,
ở điểm này, Lê Quý Đôn đã mở rộng và bổ sung thêm quan niệm vương đạo truyền
thống.
Về quan niệm
bá đạo, Lê Quý Đôn không đưa ra định nghĩa trực tiếp mà chỉ cho rằng “bá đạo
thì trái ngược lại” so với vương đạo. Có nghĩa nếu vương đạo là nhân đức và
giáo hóa, thì bá đạo sẽ là sử dụng quyền lực, pháp luật một cách cực đoan, sử
dụng các âm mưu thủ đoạn để đạt đến mục đích cai trị. Ở đây vương đạo và bá đạo
vẫn được xem xét theo tính chất của đường lối cai trị chứ không phải theo chủ
thể thực hiện đường lối, đúng như cách quan niệm được chấp nhận rộng rãi từ
thời Mạnh Tử.
Lê Quý Đôn
theo Tống Nho, đương nhiên ông khẳng định và đề cao vương đạo. Trong Quần thư
khảo biện, Lê Quý Đôn nhắc đến vương đạo như là đường lối “cao xa” [3, tr.161],
giống như “ngọc đẹp” [3, tr.214] tức là thứ rất trân quý. Ngay tại trích dẫn
trên về “đạo công bằng chính trực”, những lời giải thích về vương đạo đã bao
hàm sự tán dương vương đạo với tư cách đường lối chính trị chuẩn mực, “lẽ
thường phép lớn” mà người vi chính phải tuân theo. Trong so sánh với bá đạo, Lê
Quý Đôn cũng cho thấy thái độ nghiêng về vương đạo của mình. Nếu vương đạo là
“ngọc đẹp”, thì bá đạo giống như “đá cuội” [3, tr.214]. Ông so sánh đức hóa của
Văn vương nhà Chu với trá lực của nhà Tần để khẳng định dùng đức (vương đạo) có
tác dụng tốt hơn và lâu dài hơn [xem: 3, tr.159]. Như vậy, Lê Quý Đôn trước sau
vẫn trung thành với lập trường của Nho gia về đạo trị nước: Đức trị, giáo hóa
là tiêu chuẩn căn bản.
Tuy nhiên, tư
duy của Lê Quý Đôn vốn không theo hướng nguyên tắc cứng nhắc. Trong thái độ đối
với vương đạo và bá đạo cũng như vậy, một mặt, ông khẳng định vương đạo cao quý
hơn, có tác dụng lâu dài hơn bá đạo; mặt khác, ông cũng không phủ nhận hoàn
toàn bá đạo. Trước hết, Lê Quý Đôn phê phán các quan điểm cực đoan cho rằng chỉ
cần sử dụng đức, không cần dùng đến hình pháp hay quyền lực. Ông nói: “Chẳng kể
là đức dày hay mỏng, nếu trừ ác mà không trừ cho tiệt hoạ thì thật là để mối lo
lớn cho ngàn đời” [3, tr.71]. Đức tuy quan trọng nhưng không phải có thể thay
cho tất cả, không thể chỉ dùng đức mà trị được thiên hạ. Bên cạnh đức còn phải
có đủ các yếu tố khác: Hình pháp, sự nghiêm cẩn, binh lực, v.v..
Không chỉ cho
thấy quan điểm cởi mở về tác dụng của đức và hình, trong Quần thư khảo biện, Lê
Quý Đôn còn trực tiếp thừa nhận bá đạo như là đường lối có thể có ích. Ông nói:
“Vương đạo cao xa lắm, không bàn nữa. Nhưng ngay cái gọi là “công lợi” và “giàu
mạnh” của nghiệp bá cũng không phải việc dễ dàng” [3, tr.161]; “Bảo rằng đạo
làm vương và thuật làm bá ví như ngọc đẹp với đá cuội thì ai mà chẳng biết.
Nhưng nếu bảo rằng việc làm của thuật làm bá không hợp với đạo làm vương thì
không được” [3, tr.214].
Lê Quý Đôn
soạn Quần thư khảo biện từ khi mới tham chính được vài năm (lời tựa của quần
thư ghi năm 1757), đang còn mang rất nhiều nhiệt huyết dấn thân của kẻ quân tử
được tích luỹ qua sách vở thánh hiền. Tuy nhiên, khả năng tư duy độc lập đã
khiến Lê Quý Đôn nhận ra những hạn chế hẹp hòi của quan điểm cực đoan hóa đức
độ và giáo hóa, nên ông đã không ngần ngại phê phán “các nhà nho đời sau”. Thậm
chí trong Quần thư khảo biện có vài lần Lê Quý Đôn phê phán các nhà nho thời
Tống, tức là phê phán trực tiếp tư tưởng của các bậc tiên hiền. Đáng lưu ý là
sự phê phán của ông hướng vào điểm yếu của Nho giáo Tống: Chỉ chăm chăm vào các
luận nghị cao xa viển vông mà bỏ qua hiện thực, trọng văn khinh võ quá mức,
v.v.. Đây cũng chính là gián tiếp phê phán việc chỉ đề cập đến đạo đức mà bỏ
qua các vấn đề khác trong trị đạo.
Vậy sau Quần
thư khảo biện, đến thời kỳ sau, khi đã có rất nhiều trải nghiệm thực tế về
đường lối chính trị và các quan hệ xã hội, thì thái độ của Lê Quý Đôn đối với
vương đạo và bá đạo như thế nào? Trong các sách vở còn lại ở thời kỳ sau của
ông, chỉ có Thư kinh diễn nghĩa (lời tựa viết năm 1772) là trực tiếp nhắc đến
vương đạo và bá đạo, nhưng cũng không có nhận xét trực tiếp nào về bá đạo. Tuy
nhiên, chính trong Thư kinh diễn nghĩa ông đã đưa ra quan niệm có thể coi là mở
rộng phạm vi của vương đạo (như chúng ta đã đề cập ở trên). Hơn nữa, về mối
quan hệ giữa đức và hình, Lê Quý Đôn vẫn tiếp tục đứng vững trên lập trường đã
được xây dựng từ trước. Ông viết: “Người quân tử lấy hình phạt để phòng dân loạn,
lấy lễ giáo để đề phòng tư dục. Vì thế thánh nhân dùng cả giáo hóa lẫn hình
phạt mà không bỏ mặt nào.
Đặt thành kỷ
cương, chỉ bảo bằng lễ nghĩa, công việc giáo hóa làm hết mức quá lắm cũng chỉ
có thể làm cho bảy tám phần mười [số người] theo điều thiện, chứ chưa chắc đã
có thể làm cho phong tục đạt tới mười phần thuần hậu” [2, tr.72-73].
Có thể thấy
quan điểm của Thư kinh diễn nghĩa hoàn toàn thống nhất với quan điểm của Quần
thư khảo biện, rằng đức trị là nền tảng nhưng đức độ và giáo hóa không phải là
cái duy nhất được sử dụng mà phải dùng cả các công cụ khác: phép tắc, pháp
luật. Như vậy, có thể nói, Lê Quý Đôn đã kiên trì và nhất quán với lập trường
của mình trong suốt quá trình phát triển tư tưởng, một lập trường cởi mở và rất
thực tế.
Việc nhất quán
trước sau như một trong lập trường của Lê Quý Đôn còn được thể hiện ở một điểm
nữa, đó là thái độ của ông đối với Quản Trọng, nhân vật điển hình của bá đạo.
Trong các trứ tác của Lê Quý Đôn, không chỉ một lần ông nhắc đến và đánh giá về
Quản Trọng.
Trong Quần thư
khảo biện, Lê Quý Đôn có những nhận xét rất tích cực đối với Quản Trọng, coi
nhân vật này “là bậc tôi trung” [3, tr.114], “là bề tôi của xã tắc, chưa khi
nào quên lo việc nước” [3, tr.111]. Trong Thánh mô hiền phạm lục, Lê Quý Đôn
cũng trích dẫn khá nhiều giáo huấn của Quản Trọng trong việc trị nước [Xem: 5,
“Tòng chính”], và trích lại lời nhận xét của Sử ký (Tư Mã Thiên) về Quản Trọng,
rằng Quản Trọng “vi chính khôn khéo, đời đang tai hoạ ông xoay làm hạnh phúc,
đời đang bại hoại, ông chuyển làm thành công” [Xem: 5, “Tòng chính”]. Tuy chỉ
là những trích dẫn chứ không phải lời bình trực tiếp, nhưng việc đưa ra những
trích dẫn này cũng cho thấy thái độ đồng tình tích cực của Lê Quý Đôn đối với
Quản Trọng.
Đến tác phẩm Vân
đài loại ngữ (lời tựa viết năm 1773), Lê Quý Đôn đề cao Quản Trọng bằng những
lời lẽ trực tiếp. Ông viết: “Quản Tử thực là người có tài vương tá. Sách của
Quản Tử làm, thực là thâm thúy, tinh vi (…). Như thiên “Nội nghiệp”, bàn về
chính trị, có nói “tâm phải tĩnh”, thì cũng như sách Đại học nói “chính tâm”.
(…) Quản Tử trên bàn kỷ cương trời đất, dưới nói tình hình nhân vật, sáng đạo
đức, chuộng nhân nghĩa. Đủ cả danh lẫn thực mà không phiền toái. Hình pháp tuy
nghiêm mà trung hậu. Xét rõ, ý nghĩa không khác gì ý nghĩa của đạo tam vương”
[4, tr.293-294]. Nhận xét như vậy, có thể nói, đã đề cao hết mức nhân vật này
của bá đạo và qua đó gián tiếp đề cao, khẳng định bá đạo cũng tương đồng với
vương đạo.
Như vậy, có
thể thấy, quan điểm vương đạo và bá đạo của Lê Quý Đôn có tính thực tế và linh
động, khá khác biệt với quan điểm của Chu Hi. Nghĩa là tuy ông khẳng định bản
thân tuân thủ các lý luận của tiên hiền, nhưng trên thực tế vẫn có những điểm
bổ sung và phát triển.
2. Một số nhận định về quan niệm vương đạo,
bá đạo của Lê Quý Đôn
Sự thống hợp
vương đạo và bá đạo trong tư tưởng chính trị của Lê Quý Đôn như trên gợi mở một
số nhận định như sau.
Đầu tiên, ta
xem xét bối cảnh lịch sử của những phát biểu của Lê Quý Đôn về vương - bá. Lê
Quý Đôn sống trong thời kỳ phức tạp về mặt chính trị. Chỉ riêng ở Đàng Ngoài,
quyền lực chính trị do hai thế lực là vua Lê và chúa Trịnh cùng nắm giữ. Vua Lê
về danh nghĩa vẫn là nguyên thủ của quốc gia, nhưng vua Lê chỉ có hư vị, nhân
vật thực sự quyết định mọi chính sách, mọi đường lối hoạt động, điều khiển bách
quan chính là chúa Trịnh. Thực trạng này không tuân theo nguyên lý thống trị
tập quyền chuyên chế - quyền lực tập trung vào tay một người - của Nho giáo
truyền thống. Vì thế, nó không thể không gây ra những xáo trộn trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng.
Trên thực tế,
dù tài liệu sử quan phương đương thời (Đại Việt sử ký tục biên) và nhiều tài
liệu của thời kỳ này do các quan lại phụng sự trong triều đình trứ tác không đề
cập đến, nhưng vấn đề “chính danh” vẫn được đặt ra. Ở một thế cục mà danh phận
của người ở vị thế cao nhất trong thang bậc quyền lực không được rõ ràng, thì
đương nhiên sẽ nảy sinh rất nhiều câu hỏi, công khai hoặc ngấm ngầm [xem: 7,
q.38]. Việc “danh phận không sáng tỏ” đương nhiên không thể không khiến cho các
đời chúa Trịnh phải tìm cách khắc phục. Một mặt, chúa Trịnh luôn thể hiện ra
bằng sự phân định rõ ràng trong nghi thức, nghi lễ, rằng mình giữ lễ vua tôi,
giữ đúng địa vị thần tử (dù là thần tử dưới một người trên vạn người); mặt khác,
như nhà nghiên cứu Lê Kim Ngân đã chỉ ra, chúa Trịnh đã có ý định tìm kiếm một
lý luận khả dĩ hợp thức hóa, chính đáng hóa vai trò của bản thân, lý luận đó
chính là bá đạo [Xem: 6, tr.229].
Có thể thấy
rằng, chúa Trịnh đã dựa vào khía cạnh “chủ thể của đường lối cai trị” (vương
đạo là đường lối do vua thực hiện, bá đạo là đường lối do bá chủ thực hiện) để
xem xét và (ngầm) hướng sự chú ý của giới Nho học giả - cũng chính là giới quan
lại và sĩ tử - đến vấn đề vương bá và từ đó chấp nhận bá đạo. Tuy nhiên, để
chính đáng hóa đường lối ấy thì phải dựa vào khía cạnh “tính chất của đường
lối”, tức là cần khẳng định bá đạo - việc sử dụng quyền lực, pháp luật, kỷ
cương v.v. - cũng có giá trị, ở nhiều phương diện cũng không khác gì vương đạo,
tức đường lối đức trị. Chúng tôi cho rằng những điều này, dù không được thể
hiện rõ ràng trong chính sử, nhưng rất có thể đã có ảnh hưởng ở mức độ nào đó
đến tư tưởng của Lê Quý Đôn về vấn đề vương đạo - bá đạo.
Tuy nhiên, có
thể thấy, trong các lý luận của mình, Lê Quý Đôn chỉ xem xét vương đạo và bá
đạo từ khía cạnh tính chất của đường lối trị quốc, chứ không đề cập đến khía
cạnh chủ thể thực hiện. Nói cách khác, ông có thái độ khẳng định đối với bá đạo
không phải vì bá đạo là đường lối của kẻ bá chủ, mà vì đường lối ấy có những
tác dụng và giá trị thực tế. Do đó, có thể nói, ảnh hưởng từ xu hướng tìm kiếm
lý luận chính đáng hóa vai trò chính trị của chúa Trịnh đến Lê Quý Đôn, nếu có,
thì cũng không lớn và chỉ dừng ở một giới hạn nhất định.
Bối cảnh đương
thời còn ảnh hưởng đến quan điểm của Lê Quý Đôn ở một khía cạnh nữa, tuy gián
tiếp hơn nhưng lại rõ ràng hơn. Đương thời Lê Quý Đôn là thời kỳ phức tạp về
chính trị và có những bước chuyển biến mới trong các lĩnh vực kinh tế và xã
hội. Những yếu tố này đã tác động mạnh đến đời sống tư tưởng khi đó, khiến nó
trở nên sôi động và bị xáo trộn. Chính sự không đồng nhất và không bình lặng ấy
lại là cơ hội cho những luồng suy tư rộng mở được dịp phát triển. Không phải
ngẫu nhiên mà trong thời kỳ này, một mặt, Nho phong sĩ khí bị coi là xuống dốc;
mặt khác, các xu hướng mới, như xu hướng nghiên cứu và chú giải kinh điển, xu
hướng tập trung vào các vấn đề bản thể, xu hướng đồng nguyên tam giáo trên nền
tảng Nho giáo[4],
v.v. lại nảy sinh. Đối với cá nhân nhà tư tưởng, sự sôi động và tiến triển theo
nhiều hướng như vậy của đời sống tư tưởng đã tạo điều kiện cho họ mở rộng tư
duy một cách tự do hơn, dù vẫn trên nền tảng tư tưởng Tống Nho, nhưng không bị
ràng buộc một cách khắt khe và cực đoan. Điều này thể hiện trong hệ thống tư
tưởng của Lê Quý Đôn, ở những phát biểu về vương bá, về vai trò của pháp luật,
v.v..
Tuy nhiên,
đóng vai trò quan trọng hơn cả trong sự phát triển tư tưởng của Lê Quý Đôn
chính là khả năng suy tư của bản thân ông. Lê Quý Đôn là nhà Nho có khả năng
quan sát sắc sảo và óc tư duy linh hoạt, thực tế. Ngay từ khi mới tham gia quan
trường, ông đã đưa ra lập trường rất thực tế về bá đạo (như trong Quần thư khảo
biện mà ta đã xem xét ở trên). Đó là kết quả của việc học hỏi và suy ngẫm từ
sách vở thánh hiền, nhưng thông qua một tư duy độc lập, vượt qua truyền thống
tuyệt đối hóa vương đạo và hạ thấp bá đạo. Sau này, khi đã trải qua nhiều thăng
trầm trong cuộc đời hoạt động chính trị, giúp rập vua và chúa trị nước an dân,
lập trường của Lê Quý Đôn về vương đạo và bá đạo vẫn không thay đổi, thậm chí
còn được khẳng định thêm. Thực tế hoạt động của một vị quan lại, trải qua rất
nhiều vị trí từ võ quan đến văn quan và trên các địa bàn khác nhau từ trung
ương đến địa phương cho phép Lê Quý Đôn khẳng định vai trò quan trọng của pháp
luật và kỷ cương bên cạnh các yếu tố đức độ và giáo hóa. Do đó, có thể nói, việc
Lê Quý Đôn thêm các yếu tố pháp luật vào trong phạm vi của “vương đạo” (Thư
kinh diễn nghĩa), cũng như thái độ thừa nhận đối với bá đạo, là lý luận đúc kết
từ những trải nghiệm thực tế trong quá trình hoạt động chính của ông. Kinh
nghiệm thực tế là yếu tố khiến tư tưởng của Lê Quý Đôn thêm phần giá trị và có
sức thuyết phục cao hơn.
Tóm lại, lý
luận về vương đạo và bá đạo là một trong những lý luận chính trị chủ yếu của
Nho học. Bắt đầu từ sự phân tách về chủ thể thực hiện hoạt động vi chính (vương
đạo là đường lối của vua, bá đạo là đường lối của chư hầu), càng về sau vương
đạo bá đạo càng nghiêng sang hướng đề cập đến nguyên tắc nền tảng của hoạt động
chính trị: dùng đức và giáo hóa hay dùng hình phạt, pháp luật, kỷ cương, mưu mô
quyền biến. Từ trong lịch sử, Nho gia luôn khẳng định vai trò của đức trị và
giáo hóa, ở những mức độ nhất định còn tuyệt đối hóa vai trò ấy và xem nhẹ các
vấn đề còn lại, coi là “mạt đoan”. Tuy nhiên, chính bản thân Nho gia cũng không
thể từ bỏ các yếu tố “mạt đoan” ấy trong thực tế cai trị.
Trong một bối
cảnh phức tạp về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và tư tưởng như xã
hội Việt Nam thế kỷ XVIII, các lý luận về vương bá lại được dịp xuất hiện trong
đời sống tư tưởng Việt Nam, mà có thể thấy rõ nhất trong tư tưởng của Lê Quý
Đôn, một trong số những nhà tư tưởng hàng đầu đương thời. Lê Quý Đôn, đứng vững
trên lập trường của Nho học truyền thống, xem vương đạo là đường lối lý tưởng,
là chuẩn mực mà người vi chính phải tuân thủ; đồng thời ông vẫn có cái nhìn
rộng mở với bá đạo, thừa nhận những tác dụng thực tế của đường lối này, ca ngợi
nhân vật điển hình của đường lối ấy - Quản Trọng. Điều này có thể một phần do
ảnh hưởng của xu hướng tư tưởng của lịch sử, nhưng chủ yếu xuất phát từ nhận
thức sáng suốt cộng với kinh nghiệm thực tế phong phú của bản thân Lê Quý Đôn.
Do đó, có thể nói, quan điểm về vương đạo và bá đạo của Lê Quý Đôn, một mặt,
thể hiện tư duy sắc sảo và thực tế của ông; mặt khác, phản ánh tính chất sôi
động và phức tạp của đời sống tư tưởng và đời sống chính trị đương thời. Đó là
những giá trị có thể thấy rõ của tư tưởng vương - bá của Lê Quý Đôn trong hệ
thống tư tưởng của ông cũng như trong tư tưởng chính trị của Nho giáo Việt Nam
thế kỷ XVIII.
Tài liệu tham khảo
[1]. Phan Đại
Doãn (Chủ biên) (1999), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[2[. Lê Quý Đôn
(Ngô Thế Long, Trần Văn Quyền dịch) (1993), Kinh thư diễn nghĩa, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
[3]. Lê Quý Đôn
(Trần Văn Quyền dịch và chú giải) (1995), Quần thư khảo biện, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
[4]. Lê Quý Đôn
(Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích) (2006), Vân đài loại ngữ, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
[5]. Lê Quý Đôn
(Trần Lê Nhân dịch và chú thích), Thánh mô hiền phạm lục, tài liệu của Viện
Triết học.
[6]. Lê Kim Ngân
(1974), Chế độ chính trị Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Viện Đại học Vạn Hạnh
xuất bản, Sài Gòn.
[7]. Quốc sử quán
triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
Trên thực tế ngay
từ thời Hán, Đường đã có những ý kiến của Nho học giả tuyệt đối hóa đức trị và
phủ nhận các vấn đề hình pháp. Kể từ sau Chu Tử, Tính lý học hình thành với tư
cách một trào lưu thống trị, xu hướng xem trọng tu thân giáo hóa và coi nhẹ
hình pháp, các vấn đề trị lý thực tiễn trở nên phổ biến.
Tác giả:
TS. Lương Mỹ Vân - Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.