Có thể nói, ở Việt Nam, chưa bao giờ vấn đề tha hóa (chính xác hơn là hiện tượng tha hóa) lại được nói nhiều, đề cập nhiều như hiện nay. Vậy, nguồn gốc của tha hóa là ở đâu và cần có biện pháp gì để “giải”(*) tha hóa? Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ bắt đầu từ cách tiếp cận của C.Mác về nguồn gốc và cách “giải” tha hóa, từ đó cùng suy ngẫm nhằm góp phần để có thể “giải” tha hóa một cách căn bản và có hiệu quả.
1. Quan điểm của C.Mác về nguồn gốc của tha hóa
Khi phân tích, mổ xẻ phạm trù tha hóa trong chủ nghĩa tư bản, cũng như khi nghiên cứu rộng hơn, toàn diện hơn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã nhận thấy rằng, sự tha hóa con người và xã hội loài người bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
Một là, chế độ tư hữu bóc lột.
Theo C.Mác, chế độ tư hữu bóc lột là nguyên nhân sâu xa của tha hóa, ông viết: “Hiện nay chúng ta phải hiểu thấu đáo mối liên hệ căn bản giữa chế độ tư hữu, lòng tham của cải, sự tách rời nhau của lao động, tư bản và sở hữu ruộng đất, giữa trao đổi và cạnh tranh, giữa giá trị của con người và sự mất giá trị của con người, giữa độc quyền và cạnh tranh v.v..., giữa tất cả sự tha hóa đó và chế độ tiền tệ” [ 9, tr.127-128].
Vậy, tại sao chế độ tư hữu bóc lột lại dẫn đến tha hóa? Theo C.Mác, chế độ tư hữu bóc lột tất yếu làm xuất hiện “tính quy định xã hội trong đó nó tồn tại: lao động quá khứ đối lập với lao động sống, sản phẩm đối lập với hoạt động; vật đối lập với con người, những điều kiện vật thể của lao động đối lập với nó, đối lập với tư cách là những chủ thể, những sự nhân cách hóa xa lạ, độc lập, tự tách ra một cách vững chắc, tóm lại, đối lập với tư cách là quyền sở hữu của người khác, và dưới hình thức này - với tư cách là “những người sử dụng” và “những người chỉ huy” bản thân lao động mà họ chiếm hữu chứ không phải lao động chiếm hữu họ” [6, tr.666-667]. Cũng theo C.Mác, chế độ tư hữu bóc lột làm tha hóa không chỉ con người, mà làm tha hóa cả vật (vật trong quan hệ với con người). “Sở hữu tư nhân tha hóa cá tính chẳng những của con người mà của cả vật nữa. Ruộng đất không có gì dính dáng với địa tô, máy móc không có gì dính dáng với lợi nhuận. Đối với người chủ ruộng đất, thì ruộng đất chỉ có nghĩa là địa tô; anh ta cho thuê những khu đất của mình và thu tô; đó là một đặc tính mà ruộng đất có thể mất đi, nhưng không mất bất cứ một đặc tính nào trong những đặc tính cố hữu bên trong của nó, không mất chẳng hạn một phần độ phì nào của nó cả; đó là một đặc tính mà mức độ và thậm chí cả sự tồn tại của nó đều tùy thuộc vào những quan hệ xã hội này sinh ra và bị tiêu diệt đi không cần đến sự tiếp tay của những người chủ ruộng đất cá biệt. Đối với máy móc thì cũng như thế” [2, tr.321].
Hai là, sự phân công lao động bị nô dịch hóa.
Gắn liền với chế độ tư hữu tư liệu sản xuất là sự phân công lao động bị nô dịch hóa. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến sự tha hóa con người và xã hội loài người. Phân công lao động bị nô dịch hóa, theo C.Mác, - “có nghĩa là tư liệu lao động trực tiếp thống trị công nhân, tuy không phải theo ý nghĩa tư bản chủ nghĩa” [7, tr.236]. Đó là quá trình “biểu hiện rõ nét nhất sự phụ thuộc của cá nhân vào sự phân công lao động, vào một hoạt động nhất định bắt buộc đối với cá nhân, sự lệ thuộc ấy biến người này thành một con vật ở thành thị và người kia thành một con vật ở nông thôn, cả hai người đều ngu dốt như nhau và hằng ngày lại tái sản sinh ra sự đối lập giữa lợi ích của cả hai phía. Ở đây, lao động lại vẫn là cái chủ yếu nhất là một lực lượng đè lên các cá nhân...” [2, tr.72-73].
Quá trình phân công lao động bị nô dịch hóa cũng là quá trình con người bị tha hóa, nói cách khác, quá trình phân công lao động bị nô dịch hóa đã dẫn đến quá trình tha hóa ở con người. Bởi vì, quá trình phân công lao động đã bị nô dịch hóa này tất yếu dẫn đến tình hình là “trong khi sự hiệp tác nói chung vẫn để nguyên phương thức lao động của từng công nhân riêng rẽ, thì công trường thủ công lại đảo lộn hẳn phương thức đó, nó làm cho người công nhân què quặt đi; vốn không có khả năng sản xuất ra một sản phẩm độc lập, anh ta chỉ là một vật phụ thuộc vào công xưởng của nhà tư bản. Trí lực lao động biến mất ở nhiều người để tăng quy mô của mình ở một vài người cá biệt. Sự phân công lao động trong công trường thủ công dẫn tới chỗ là trí lực của quá trình lao động đối lập với công nhân như là sở hữu của người khác và là lực lượng thống trị họ” [4, tr.379].
Ba là, tính tự phát và không làm chủ được mình của các cá nhân trong hoạt động sản xuất.
Tính tự phát trong hoạt động sản xuất xã hội là một nguyên nhân nữa của sự tha hóa con người và xã hội loài người. Tính tự phát này, ở mức độ nhiều ít khác nhau, đã dẫn đến tình trạng con người và xã hội không kiểm soát được hoạt động của mình. Hơn thế, nó còn bị những kết quả hoạt động của chính mình chi phối, tác động trở lại. Bởi vì, hoạt động tự phát của các cá nhân là nhằm theo đuổi lợi ích riêng biệt mà việc theo đuổi lợi ích riêng biệt này, như cách gọi của C.Mác, là “cuộc đấu tranh thực tiễn của những lợi ích riêng biệt ấy - những lợi ích luôn luôn thực sự chống lại những lợi ích chung và những lợi ích chung hư ảo, - khiến cho cần thiết phải có can thiệp thực tiễn và sự kiềm chế những lợi ích riêng biệt bởi lợi ích “phổ biến” hư ảo, dưới hình thức nhà nước, đối với các cá nhân ấy, lực lượng xã hội, - tức là lực lượng sản xuất được nhân lên gấp bội và ra đời nhờ sự hợp tác của những cá nhân khác nhau do phân công lao động quy định, - biểu hiện không phải như một lực lượng kết hợp của bản thân họ,... mà biểu hiện như là một lực lượng xa lạ, ở bên ngoài họ, lực lượng mà họ cũng chẳng biết từ đâu đến và sẽ đi đâu, lực lượng mà do đó họ đã không thể chế ngự được, và trái lại, lực lượng ấy hiện đang trải qua một chuỗi những giai đoạn và trình độ phát triển chẳng những độc lập đối với ý chí và hành động của loài người mà trái lại còn điều khiển ý chí và hành động ấy” [2, tr.48-49].
Bốn là, sự thiếu và yếu về văn hóa - một nguyên nhân của tha hóa.
Chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng nhấn mạnh: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, v.v. đều dựa trên cơ sở kinh tế. Nhưng tất cả cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” [8, tr.271]. Điều đó cũng có nghĩa là nếu sự tha hóa trong hiện thực đã “đẻ” ra sự tha hóa trong tinh thần thì ngược lại, sự yếu kém và thiếu hụt trong tinh thần cũng sẽ “đẻ” ra sự tha hóa trong hiện thực. Bởi lẽ, con người thiếu và yếu về văn hóa nên trong những hoạt động của mình, họ luôn tạo ra những “ảo tưởng” đủ loại, những sự “tha hóa” về mặt tinh thần. “Khi bản thân những cá nhân tiến hành cách mạng, - Mác viết -, lại tùy theo trình độ văn hóa của mình và tùy theo trình độ phát triển của lịch sử mà tự tạo ra cho mình đủ loại ảo tưởng về hoạt động riêng của mình” [2, tr.108].
Bên cạnh đó, trình độ văn hóa thấp, trình độ hiểu biết yếu kém, sự suy nghĩ nông cạn, dễ dẫn con người đến sợ hãi, - nguyên nhân chủ yếu của việc xuất hiện tín ngưỡng và niềm tin tôn giáo. “Sự sợ hãi tạo ra thần linh, - Lênin viết -, sự sợ hãi trước thế lực... mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó - là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói” [10, tr.515-516].
Rõ ràng, sự thiếu và yếu về văn hóa của con người, ở mức độ nhất định, đã góp phần tạo ra tình cảnh đó của con người, tức sự tha hóa của con người và xã hội loài người.
Năm là, sự tha hóa tăng lên khi con người ta chỉ dừng ở ý thức về tha hóa mà không “giải tha hóa”.
Người ta sẽ chỉ có một cuộc đời tha hóa, một hiện thực tha hóa, thậm chí đó là sự tha hóa lớn hơn nếu như người ta chỉ dừng ở ý thức về tha hóa, không có hành động để “giải” tha hóa. C.Mác vạch rõ: “Sự tha hóa thực sự của đời sống con người vẫn có hiệu lực và thậm chí là một sự tha hóa càng lớn khi người ta càng có ý thức về nó như một sự tha hóa...” [9, tr.194]. Và, nếu con người chỉ có ý thức về tha hóa, không có hành động để tự vượt ra khỏi tha hóa, nhất là khi con người không hoạt động cụ thể để “giải” tha hóa, thì người đó chỉ đáng sống và phải sống một cuộc đời tha hóa. “Khi con người đã hiểu rằng trong pháp luật, chính trị v.v. nó sống một đời sống bị tha hóa, thì nó sẽ sống cuộc sống chân chính con người của mình trong cuộc sống bị tha hóa ấy” [9, tr.237].
Sáu là, trạng thái xã hội ở đó con người không làm chủ, không chế ngự được bản thân sẽ làm cho tha hóa tràn lan.
Theo C.Mác, trong sự phát triển liên tục của xã hội loài người, nếu như con người không còn làm chủ được bản thân mình, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ nổi lên, lực lượng chính trị dẫn dắt xã hội không còn trong sáng, không gương mẫu, các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức bị lệch chuẩn cũng như các quan hệ xã hội bị “thị trường hóa”,... tất yếu sẽ dẫn đến một trạng thái xã hội ở đó con người không thể làm chủ và chế ngự được chính bản thân mình, đó là điều kiện màu mỡ cho tha hóa tràn lan. C.Mác vạch rõ: “Cuối cùng, đến một thời kỳ mà hết thảy mọi thứ mà trước đây người ta coi là không thể chuyển nhượng được, thì nay trở thành đối tượng trao đổi, mua bán và có thể chuyển nhượng được. Đó là thời kỳ mà ngay cả đến những cái xưa nay chỉ truyền cho nhau, chứ không bao giờ đưa ra đổi chác; những cái mà người ta cho không chứ không bao giờ đem bán; những cái chỉ kiếm được chứ không bao giờ phải mua - đạo đức, tình yêu, ý kiến, tri thức, lương tâm, v.v., - thời kỳ mà cuối cùng cái gì cũng trở thành đối tượng buôn bán. Đó là thời kỳ tham nhũng phổ biến, thời kỳ mua bán ở khắp mọi nơi, hay, để nói theo danh từ khoa kinh tế chính trị, thời kỳ mà mọi cái tinh thần hay vật chất đều trở thành giá trị trao đổi, được đưa ra thị trường để người ta đánh giá một cách tương xứng nhất theo giá trị thật sự của nó” [3, tr.106-107].
2. Quan điểm của C.Mác về cách “giải” tha hóa
Trên cơ sở vạch rõ những nguồn gốc dẫn đến tha hóa trong xã hội, C.Mác đã chỉ ra những cách thức để “giải” tha hóa.
Trước hết, phải có cách tiếp cận hiện thực để “giải” tha hóa.
Trên lập trường duy vật lịch sử, C.Mác đã phê phán những cách “giải” tha hóa của các nhà lý luận tôn giáo, của Pruđông, Phoiơbắc, nhất là của Hêghen, bởi lẽ những cách “giải” này chỉ thuần túy mang tính duy tâm, tư biện không có tính hiện thực và do đó, không được quần chúng quan tâm. Quay về điểm xuất phát của mình, C.Mác viết: “Sự phê phán tuyệt đối đã kết thúc cuộc tuần hoàn tư biện, do đó kết thúc toàn bộ quá trình sinh sống của mình. Sự vận động sau này của nó là cuộc xoay vần thuần túy trong nội bộ của nó và vượt lên trên mọi lợi ích của quần chúng, cho nên quần chúng không mảy may quan tâm đến” [1, tr.217-218].
Bởi thế, theo C.Mác, cách “giải” tha hóa tốt nhất, thiết thực nhất, có hiệu quả nhất là cách “giải” hiện thực: Căn cứ vào hiện thực, có phương phướng giải quyết hiện thực, và dựa vào lực lượng hiện thực: “Nhưng những công nhân cộng sản chủ nghĩa có tính quần chúng ấy, - ví dụ những người làm công ở các công xưởng Man-se-xtơ và Ly-ông, không hề nghĩ rằng “tư duy thuần túy”, nghĩa là chỉ dựa vào những nghị luận của họ, là có thể thoát khỏi bọn chủ của họ và khỏi địa vị nhục nhã thực tế của bản thân họ. Họ rất đau khổ cảm thấy sự khác nhau giữa tồn tại và tư duy, giữa ý thức và đời sống. Họ biết rằng tài sản, tư bản, tiền bạc, lao động làm thuê và những cái như thế đều hoàn toàn không phải là ảo ảnh trong tưởng tượng, mà là sản phẩm hết sức thực tế, hết sức cụ thể của sự tự tha hóa của công nhân, rằng vì vậy họ cũng phải dùng phương thức thực tế và cụ thể để tiêu diệt chúng để cho con người có thể trở thành con người không những trong tư duy, trong ý thức mà cả trong sự tồn tại có tính quần chúng, trong đời sống nữa” [1, tr.80].
Thứ hai, phải chỉ ra và dựa vào các tiền đề thực tiễn để “giải” tha hóa.
Theo C.Mác, để thực sự có được cách “giải” tha hóa, phải có và dựa trên hai tiền đề: Phải có một lực lượng “không thể chịu đựng được” do bị tha hóa, do bị tước đoạt hết và lực lượng đó phải đấu tranh chống lại cái chế độ xã hội đã sinh ra tha hóa và duy trì sự tha hóa. “Sự tha hóa” ấy, - C.Mác nhấn mạnh -, dùng từ đó để cho các nhà triết học dễ hiểu sự trình bày của chúng tôi, - dĩ nhiên là chỉ có thể bị xóa bỏ khi có hai tiền đề thực tiễn. Để trở thành một lực lượng “không thể chịu đựng được”, nghĩa là một lực lượng mà người ta phải làm cách mạng để chống lại thì điều cần thiết là sự tha hóa đó phải biến đa số trong nhân loại thành những người hoàn toàn “không có sở hữu”, đồng thời mâu thuẫn với cái thế giới đầy rẫy của cải và học thức đang tồn tại thực sự, - cả hai điều kiện này đều giả định trước là phải có sự tăng lên to lớn của sức sản xuất” [2, tr.49].
Những tiền đề này lại chỉ được hiện thực hóa khi mà con người không chỉ mưu sự mà quan trọng hơn còn phải thành sự, - phải hành động thực sự và có hiệu quả, bởi lẽ, theo C.Mác, “khi nào con người không chỉ mưu sự, mà lại còn làm cho thành sự nữa (chúng tôi nhấn mạnh - N.Đ.X.), - thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa” [2, tr.49].
Thứ ba, phải có chủ thể để thực hiện “giải” tha hóa.
Từ thực tiễn của thời đại mình, C.Mác đã phát hiện ra một chủ thể đích thực và chỉ có lực lượng thực tế ấy mới có thể “giải” tha hóa một cách triệt để và toàn diện, - đó là giai cấp vô sản, bởi lẽ ở họ có một thuộc tính khác, một bản chất khác, một sự liên hợp khác về chất so với tất cả các giai cấp trước đó: “Nhưng trong cộng đồng của những người vô sản cách mạng, - C.Mác phân tích -, là những người kiểm soát được những điều kiện tồn tại của bản thân mình lẫn những điều kiện tồn tại của mọi thành viên của xã hội thì tình hình lại ngược lại: các cá nhân tham gia vào cộng đồng ấy với tư cách là những cá nhân. Nó là sự liên hợp của những cá nhân (tất nhiên giả định rằng những lực lượng sản xuất đương thời đã phát triển), một sự liên hợp đặt những điều kiện của sự phát triển tự do và của sự vận động của các cá nhân, dưới sự kiểm soát của nó, - những điều kiện, cho tới nay, vẫn được phó thác cho ngẫu nhiên và đã tồn tại độc lập đối với các cá nhân riêng lẻ, chính vì họ tách rời nhau với tư cách là những cá nhân và vì họ tất phải liên hợp với nhau, một sự liên hợp do phân công lao động tạo nên nhưng lại trở thành một mối liên hệ xa lạ đối với họ do họ tách rời nhau” [2, tr.109].
Không những thế, mặc dù đều nằm trong sự tha hóa, song trong điều kiện của xã hội hiện đại (xã hội đã đạt tới cực điểm của việc sử dụng chế độ tư hữu để bóc lột người), thì giai cấp tư sản là giai cấp được hưởng lợi trong sự tha hóa, còn ngược lại giai cấp vô sản lại trở nên bần cùng trong sự tha hóa và do đó, tất yếu cần phải thủ tiêu sự bất bình đẳng đó. “Giai cấp hữu sản, - Mác viết, - và giai cấp vô sản đều là sự tha hóa của con người. Nhưng giai cấp thứ nhất cảm thấy được thỏa mãn và vững vàng trong sự tự tha hóa đó, thấy sự tha hóa là sự chứng minh cho sự hùng mạnh của bản thân mình và có được trong đó cái bề ngoài của sự tồn tại có tính người của mình. Còn giai cấp thứ hai thì cảm thấy mình bị huỷ diệt trong sự tự tha hóa đó, thấy trong sự tha hóa đó, sự bất lực và hiện thực về sự sinh tồn không có tính người của mình” [1, tr.54].
Thứ tư, phải triệt tiêu được nguồn gốc sâu xa của “tha hóa”.
Theo C.Mác, cần phải triệt tiêu được căn nguyên sâu xa của tha hóa là chế độ tư hữu bóc lột, vì đây chính là “căn nguyên vật chất của sự đối lập ấy, căn nguyên này mà tiêu tan, thì bản thân sự đối lập ấy cũng tiêu tan” [2, tr.347]. Như vậy, cách “giải” tha hóa triệt để chính là phải đi đến xóa bỏ nguồn gốc sâu xa đã sinh ra và duy trì sự tha hóa - nguồn gốc đã nêu và phân tích trên.
Thứ năm, điều căn bản và mang tính tiên quyết để “giải” tha hóa là phải có cuộc cách mạng xã hội triệt để.
Lôgíc tất yếu của sự phân tích và lý giải trên về các cách để “giải” tha hóa đã dẫn C.Mác đến kết luận hiển nhiên, rất cách mạng và cũng rất hợp với lôgíc phát triển của lịch sử: Việc “giải” tha hóa chỉ có thể thực hiện một cách triệt để và hoàn toàn khi và chỉ khi thực hiện được một cuộc cách mạng xã hội triệt để, mà thông qua cuộc cách mạng ấy con người có thể “nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng được những tư liệu ấy một cách có kế hoạch - xã hội tự giải phóng mình và giải phóng tất cả mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng bị nô dịch, trong đó hiện nay họ đang bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính tay họ đã làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi” [5, tr.439].
Quả thật, những phân tích của C.Mác về nguồn gốc của tha hóa cũng như những chỉ dẫn của ông về cách thức “giải” tha hóa thật đáng để chúng ta suy ngẫm và cần phải tìm phương thức cụ thể để hiện thực hóa việc “giải” tha hóa. Có thể thấy được và rút ra những kết luận mang tính phương pháp luận từ trong quan niệm của C.Mác như sau: Phải tìm ra căn nguyên và những biểu hiện của hiện tượng tha hóa trong con người và trong xã hội; phải hiểu và nắm vững đặc điểm, tính chất từng loại tha hóa; phải luận chứng và thực hiện được những biện pháp khả thi tương ứng với từng loại tha hóa để “giải” chúng; phải xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật - công nghệ để các hiện tượng tha hóa không có điều kiện sinh sôi; phải phát triển được một lực lượng (chủ thể) chân chính và có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần để “giải” tha hóa; phải thiết kế được một cơ chế hoạt động xã hội để hiện tượng tha hóa không hoặc ít có mảnh đất để sống; phải tạo lập được một thể chế hợp lý, linh hoạt, đủ mạnh để các mối quan hệ giữa người và người khó có thể bị tha hóa chi phối; phải nâng cao và phát triển văn hóa, dân trí để con người tự ý thức về việc phải tự vượt ra khỏi vũng lầy tha hóa... Nói tóm lại, muốn “giải” được tha hóa thực sự và nhờ đó mà tiến lên phía trước, thì những quan niệm trên của C.Mác về nguồn gốc và cách “giải” tha hóa phải được xem là cơ sở lý luận và những chỉ dẫn có tính định hướng, phương pháp luận quan trọng mà những người cộng sản chân chính cần vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý để “giải” tha hóa hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.16, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.26, phần III, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, t.36, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[8] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.39, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[9] C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[10] V.I.Lênin (1979), Toàn tập, t.17, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
(*)Trong ngôn ngữ tiếng Việt, từ giải có thể được hiểu theo nhiều nghĩa: Giải thích, giải phóng, giải pháp, giải quyết... Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sử dụng từ “giải” trong ngoặc kép với hàm ý là giải quyết, khắc phục.