Quá trình phát triển của xã hội loài người đều cần đến các yếu tố, như tài nguyên, nguồn vốn, con người… Song, để có thể khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, sáng chế, phát minh, sản xuất hàng hóa,… con người cần phải biết cách khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Nghĩa là, con người cần phải được trang bị tri thức, kỹ năng, tức là cần phải được giáo dục. Nhận thức rõ điều này, từ xưa đến nay, các quốc gia dân tộc đều chú ý đến vấn đề giáo dục. Các học thuyết, các nhà tư tưởng vĩ đại từ cổ đến kim cũng dành cho giáo dục một sự quan tâm đặc biệt.
C.Mác - lãnh tụ thiên tài khai sinh ra phong trào cách mạng vô sản mở ra bước ngoặt vĩ đại trong khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế học, xã hội học, nghiên cứu con người... Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác không chỉ tạo ra bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về sự phát triển xã hội nói chung, mà còn đặt cơ sở khoa học cho tất cả các lĩnh vực khoa học xã hội, trong đó có khoa học giáo dục. Trước C.Mác, nhiều nhà triết học dù có những tư tưởng hợp lý nhất định về giáo dục, song do lập trường duy tâm trong quan niệm về lịch sử, nên họ không giải quyết được một cách thật sự khoa học những vấn đề căn bản của giáo dục.
1. Tư tưởng của C.Mác về nguồn gốc và bản chất của giáo dục
Vấn đề căn bản nhất của giáo dục là vấn đề bản chất xã hội của con người. Các tôn giáo cũng như các nhà triết học trước C.Mác thường quy giáo dục về một cội nguồn, một bản nguyên phi lịch sử. Bản nguyên đó hoặc là Thượng đế (tôn giáo), hoặc là một nguyên lý tiên thiên (I.Cantơ), một ý niệm tuyệt đối tự phát triển (G.Hêghen), một bản tính người trừu tượng (L.Phoiơbắc), một quyền uy nào đó (giáo dục tán đồng), hoặc các quy luật của vũ trụ (giáo dục mục đích luận vũ trụ)… Họ phủ nhận tính tự nhiên và bản tính sinh vật của con người, phân chia con người thành hai bộ phận đối lập nhau là thể xác và linh hồn. Thể xác là nơi ẩn náu của linh hồn. Khi con người chết đi thì linh hồn vẫn sống mãi, bất diệt và được siêu thoát về thế giới bên kia. Trên cơ sở quan niệm duy tâm, siêu hình đó, họ đã xây dựng nên những học thuyết giáo dục khác nhau.
Các nhà duy vật máy móc, từ Đêmôcrít thời cổ đại đến L.Phoiơbắc, đã có cách nhìn nhận biện chứng hơn, duy vật hơn về con người. Quan điểm này đã thừa nhận con người là sản phẩm tự nhiên, là thực thể sinh vật, nhấn mạnh tính huyết thống, thuần túy tự nhiên sinh học trong quan hệ của con người, nhưng lại coi nhẹ quy luật xã hội trong bản chất của con người. L.Phoiơbắc đã tiến xa hơn một bước, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhìn nhận con người có tính nhân bản về mặt xã hội. Nhận xét về quan điểm này của L.Phoiơbắc, C.Mác cho rằng: Ở Phoiơbắc bản chất con người chỉ có thể hiểu là “loài”, là tính phổ biến nội tại câm, gắn bó một cách thuần túy tự nhiên đông đảo cá nhân lại với nhau” [5, tr.11].
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, các nhà triết học duy vật máy móc đã thừa nhận con người chịu ảnh hưởng của giáo dục, của hoàn cảnh xung quanh, nhưng cho rằng sự ảnh hưởng đó mang tính tự nhiên và tự phát. Như vậy, trước C.Mác, đã có nhiều khuynh hướng, quan điểm khác nhau về bản chất con người và bản chất của giáo dục. Những người theo quan điểm phủ nhận bản chất xã hội của con người, coi con người là thực thể tự nhiên giống như các loại động vật khác, không thừa nhận con người là thực thể xã hội, thì cũng đồng thời phủ nhận bản chất xã hội của giáo dục. Họ quan niệm rằng, hiện tượng giáo dục trong xã hội loài người cũng giống như hiện tượng con ong xây tổ, như việc phân công lao động trong xã hội loài kiến mang tính bản năng. Đó là hành vi bẩm sinh, di truyền qua các thế hệ, không có ý thức. Thực chất của quan điểm này là phủ định bản chất giai cấp của giáo dục.
Đối lập với các quan điểm trên, C.Mác cho rằng, “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [5, tr.11]. Đóng góp lớn nhất của ông về mặt giáo dục là đã phát hiện ra bản chất xã hội của con người. C.Mác đã tiếp thu tất cả những quan điểm duy vật của nhân loại về con người và bản chất người. Ông cho rằng, con người là một thực thể tự nhiên, một thực thể sinh vật do quá trình biến đổi của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội. C.Mác viết: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy” [5, tr.55], điều này khẳng định con người là khách thể của hoàn cảnh thay đổi. Theo C.Mác, trong quá trình hình thành bản chất con người, yếu tố xã hội, các quan hệ xã hội là yếu tố chi phối, là nhân tố quyết định. Trong các quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất có vai trò quyết định các quan hệ xã hội khác. Trong mối quan hệ giữa con người với xã hội, C.Mác chỉ ra rằng, con người tác động vào hoàn cảnh, cải tạo hoàn cảnh trong chừng mực nào thì hoàn cảnh cũng tác động vào con người, làm biến đổi con người trong chừng mực ấy; nghĩa là, hoàn cảnh tạo ra con người cũng chính là do con người tạo ra.
Như vậy, xã hội loài người không có gì thuần túy mang tính tự nhiên, không có con người thuần túy sinh vật. Ở đó, tất cả đã được xã hội hóa, đã được người hóa; tất cả hoạt động, hành vi của mỗi cá thể đã được chế ước bởi các quan hệ xã hội. Con người lựa chọn các quan hệ phù hợp với sự tự chủ trong các quan hệ đó. Việc tạo ra các quan hệ xã hội mới đó mang đặc điểm bản chất người có ý thức. Mặt khác, con người không chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội mà con người còn tích cực cải tạo hoàn cảnh và hoàn thiện bản thân về mọi mặt. Họ vừa là khách thể, vừa là chủ thể trong quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội, giống nòi và mỗi cá thể.
C.Mác cho rằng, “cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó, con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi - cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” [5, tr.10]. Theo ông, trong quá trình hình thành nhân cách, điều kiện quyết định là hoạt động thực tiễn, hoạt động lao động và hoạt động xã hội. C.Mác viết: “Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng” [5, tr.10]. Đó là quan điểm biện chứng để phân biệt quan điểm của C.Mác với các quan điểm phi mácxít. Như vậy, hoạt động xã hội vừa là điều kiện để hình thành nhân cách, vừa là thước đo đánh giá tính chủ thể của mỗi cá nhân. Quan điểm của C.Mác về bản chất xã hội của con người ra đời đã làm đảo lộn tất cả những quan điểm trước đó về con người. Đối với lĩnh vực giáo dục, quan điểm này đã tạo cơ sở lý luận, phương pháp luận định hướng cho việc nghiên cứu và xây dựng một nền giáo dục mới cách mạng và khoa học. Muốn xây dựng một nền giáo dục mới, phải tiến hành một cuộc cách mạng chính trị, cách mạng xã hội làm thay đổi quan hệ xã hội, thiết lập xã hội mới trên quan hệ xã hội của C.Mác mới nhằm xây dựng được nhân cách của con người cho xã hội tương lai. Hiểu đúng quan điểm của C.Mác về bản chất người có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hoạt động giáo dục; đến lượt mình, giáo dục có ý nghĩa to lớn đối với xã hội nói chung, với bản chất con người nói riêng.
Luận đề của C.Mác về bản chất xã hội của con người là cơ sở lý luận để các nhà giáo dục hiểu rõ hơn về bản chất, động lực, các quy luật của quá trình giáo dục. Chỉ có quán triệt sâu sắc quan điểm của C.Mác về bản chất xã hội của con người mới có thể giải thích được tất cả những hiện tượng giáo dục phức tạp trong xã hội loài người. Đúng như C.Mác nói: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”
[5, tr.12]. Đóng góp của C.Mác chính là đã trang bị cho nhân loại một vũ khí tư tưởng, giải phóng con người và ý thức của con người ra khỏi sự trói buộc của thế giới quan, nhân sinh quan duy tâm, siêu hình, tạo điều kiện cho con người vươn lên làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ trong quá trình phát triển của mỗi cá thể với tư cách chủ thể tích cực của hoàn cảnh sống. Cùng với việc khẳng định bản chất xã hội của con người, C.Mác còn chỉ ra những quy luật của quá trình nhận thức thế giới khách quan của con người và đã tạo ra sự hoàn thiện khi đánh giá vị trí con người trong tiến trình phát triển của tự nhiên và xã hội. Những đóng góp của C.Mác đã tạo cơ sở phương pháp luận vững chắc cho khoa học giáo dục xây dựng nên lý luận giáo dục hiện đại và tổ chức quá trình giáo dục con người một cách khoa học.
2. Tư tưởng C.Mác về tính chất giai cấp, tính chất lịch sử của giáo dục
Từ việc phân tích bản chất xã hội của con người, C.Mác chỉ ra rằng, giáo dục là một loại hình hoạt động xã hội của con người, giáo dục có tính lịch sử, trong xã hội có giai cấp, giáo dục có tính giai cấp. Cũng như tôn giáo, đạo đức, pháp quyền, trong xã hội có giai cấp, giáo dục bao giờ cũng mang tính giai cấp, giáo dục là công cụ của giai cấp thống trị xã hội. C.Mác nói: “Giai cấp nào nắm trong tay tư liệu sản xuất vật chất của xã hội thì cũng đồng thời là kẻ thống trị về mặt tinh thần đối với xã hội đó. Giáo dục là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là công cụ truyền bá ý thức hệ tư tưởng, là phương tiện đào tạo con người cho xã hội, truyền bá sức mạnh tinh thần. Do vậy, giáo dục luôn mang tính giai cấp” [13, tr.128]. C.Mác khẳng định, trong xã hội có giai cấp, giáo dục trở thành công cụ quan trọng của giai cấp cầm quyền, phục vụ cho mục đích chính trị của nó. Ông nhấn mạnh: “Muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải có một chế độ giáo dục thích hợp” [8, tr.771].
Trên tinh thần đó, C.Mác khẳng định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo nên những con người xã hội chủ nghĩa, những người lao động mới có ý thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hóa và khoa học tiên tiến, có kỹ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ, có sức khoẻ tốt - những con người phát triển toàn diện.
Cùng với đó, tính chất giáo dục được quy định bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội. Tính chất giáo dục bao giờ cũng phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất vốn có của hình thái kinh tế - xã hội. Ngoài ra, giáo dục còn mang tính phổ biến. C.Mác cho rằng, giáo dục chỉ có ở xã hội loài người, nó là một phần không thể tách rời của đời sống xã hội loài người, giáo dục có ở mọi thời đại, mọi thiết chế xã hội khác nhau. Thông qua mục đích, tính chất của mình, giáo dục thể hiện vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội loài người nói chung và đối với quốc gia dân tộc nói riêng. C.Mác cho rằng, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, thông qua đó giáo dục góp phần quyết định sự vận động và phát triển xã hội. Ông khẳng định, tri thức là vũ khí kỳ diệu để quần chúng tự giải phóng mình và phát triển toàn diện mọi khả năng của mình; hơn thế, tương lai của loài người hoàn toàn phụ thuộc vào nền giáo dục thế hệ công dân đang lớn lên.
Về đường lối phát triển giáo dục, C.Mác viết: Đường lối đó “... được đề ra ngay để đánh tan công cụ áp bức tinh thần, “thế lực của cố đạo” (...). Tất cả mọi trường học đều không phải trả tiền đối với tất cả mọi người, và được tách ra ngoài ảnh hưởng của nhà thờ và của bọn thống trị. Như vậy, không những mọi người đều có thể theo học ở nhà trường, mà khoa học còn được giải thoát khỏi những thành kiến của giai cấp và của chính quyền” [11, tr.13].
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác đã nêu lên một số nhiệm vụ trong lĩnh vực giáo dục mà giai cấp vô sản cần phải thực hiện ngay sau khi giành được chính quyền, đó là: “Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xóa bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất, v.v..” [6, tr.628]. Như vậy, khi cuộc cách mạng của giai cấp vô sản thành công nhất thiết phải phổ cập giáo dục. Trong Tư bản (1867), C.Mác cũng đã chỉ ra: Muốn cho con người “trở thành một sức lao động phát triển đặc thù, thì cần phải có một trình độ học vấn hay giáo dục nào đó”.
Giáo dục bao giờ cũng được nảy sinh và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể trên một nền tảng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhất định. Khi những điều kiện lịch sử thay đổi thì giáo dục cũng thay đổi theo. C.Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [7, tr.15]. Luận điểm này chính là chìa khóa để nhận thức bản chất của mọi hiện tượng xã hội, trong đó có giáo dục. Với việc phát hiện ra tính quy định của phương thức sản xuất đời sống vật chất, giáo dục (và các hiện tượng tinh thần khác) không còn là biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ người, cũng không phải là sự biểu hiện của những năng lực tiên thiên, nhất thành bất biến của con người. Giáo dục chính là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh và bị quy định bởi tồn tại xã hội. Điều đó có nghĩa là, các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các nguyên lý, các tính chất, nội dung,… tức toàn bộ hoạt động giáo dục, xét đến cùng, đều là biểu hiện của một trạng thái, một trình độ phát triển nhất định những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
Chính vì vậy, mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục luôn chịu sự quy định của các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ phát triển sản xuất, trình độ văn minh của xã hội ảnh hưởng rất lớn đến trình độ phát triển của giáo dục. C.Mác viết: “Những tư tưởng, những quan điểm, những khái niệm của con người, tóm lại là ý thức của con người, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của con người” [6, tr.624].
3. Tư tưởng C.Mác về giáo dục con người phát triển toàn diện
Giáo dục con người phát triển toàn diện luôn là mơ ước của mọi thời đại. Nhưng do hạn chế của điều kiện xã hội, lịch sử, tư tưởng về giáo dục con người phát triển toàn diện ở mỗi thời đại cũng khác nhau. Quan điểm phát triển toàn diện con người đã được đặt ra từ thời cổ đại. Theo quan niệm của Arixtốt, con người gồm ba bộ phận là: Xương thịt, ý chí và lý trí. Tương đương với ba bộ phận đó có ba nội dung giáo dục là: Thể dục, đức dục và trí dục. Quan điểm này tuy còn thô sơ, nhưng đã thể hiện được những ý tưởng tiến bộ trong giáo dục lúc bấy giờ. Quan điểm phát triển toàn diện con người đã được các nhà giáo dục chủ nghĩa xã hội không tưởng thời kỳ văn hóa phục hưng khôi phục và phát triển mở rộng hơn. Quan điểm này đã hình dung ra con người lý tưởng với những mô hình, phẩm chất phát triển toàn diện. Nhưng họ lại tách con người ra khỏi hiện thực xã hội, chủ trương giáo dục con người phát triển toàn diện trong lòng một chế độ xã hội không hoàn thiện.
Kế thừa và vượt lên trên quan điểm của các nhà duy vật trước đó, C.Mác đã đứng vững trên lập trường duy vật lịch sử để lý giải vấn đề bản chất của giáo dục. Theo đó, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định. Mặc dù có tính độc lập tương đối, nhưng mọi hiện tượng trong đời sống tinh thần, xét đến cùng, đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất. C.Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”. Và, “cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [7, tr.15]. Đồng thời, ông khẳng định: “Những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối” [5, tr.66]. Chính vì vậy, C.Mác tin tưởng: “Bộ phận giác ngộ nhất trong giai cấp công nhân cũng nhận thức rất rõ rằng tương lai của giai cấp họ và do đó, tương lai của cả loài người, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [9, tr.262]. C.Mác khẳng định: “Chỉ cần đọc những quyển sách của Rô-be Ô-oen, cũng đủ tin chắc rằng chế độ công xưởng lần đầu tiên đã làm nảy sinh mầm mống của nền giáo dục của tương lai, nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với giáo dục và thể dục, đối với tất cả những trẻ em đến một lứa tuổi nhất định và không những đó là phương pháp tăng thêm sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp duy nhất và độc nhất để đào tạo ra những con người toàn diện” [1, tr.229-239]. Như vậy, ông đề cập đến nội dung giáo dục một cách toàn diện, bao gồm: Trí dục, giáo dục thể lực, khoa học kỹ thuật tổng hợp và giáo dục gắn liền với lao động sản xuất, tức là nội dung giáo dục bao gồm các mặt: Trí, đức, thể mỹ và giáo dục nghề nghiệp. Đồng thời, điều này đã chứng minh một cách khoa học rằng, sự phát triển toàn diện, phát triển mọi khả năng tiềm tàng của con người nhờ giáo dục là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội: “Việc kết hợp giữa lao động sản xuất được trả công, với trí dục, thể dục và huấn luyện kỹ thuật bách khoa sẽ nâng giai cấp công nhân lên trình độ cao hơn nhiều so với trình độ của giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản” [9, tr.263].
Trong lĩnh vực giáo dục, C.Mác có những cống hiến đặc biệt nổi bật, đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng và phát triển nền giáo dục mới. Ông cho rằng, mỗi chế độ xã hội cần có một nền giáo dục tương ứng, mỗi trình độ phát triển của xã hội, của sản xuất thì cần có một chế độ giáo dục thích hợp. Bằng phương pháp duy vật lịch sử, C.Mác đã phân tích một cách khoa học và rõ ràng mối quan hệ biện chứng thúc đẩy lẫn nhau và tạo điều kiện cho nhau giữa xã hội, giữa nền sản xuất và con người. Ông cho rằng, xã hội cần có và tạo điều kiện cho con người phát triển, đồng thời chính con người đến lượt mình, lại thúc đẩy xã hội phát triển. Giáo dục có trọng trách to lớn trong việc tạo nên những con người đó cho xã hội, cho sản xuất. C.Mác nhấn mạnh, sự phát triển mới của nền sản xuất xã hội sẽ phải cần đến những con người hoàn toàn mới và sẽ tạo ra những con người mới đó. Đồng thời, ông khẳng định: “Nền công nghiệp do toàn thể xã hội kinh doanh một cách tập thể và có kế hoạch thì lại càng cần có những người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông được toàn bộ hệ thống sản xuất” [4, tr.199-200].
C.Mác đã luận giải một cách khoa học về vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội, chỉ rõ giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, thông qua đó giáo dục góp phần quyết định sự vận động và phát triển của xã hội. Theo ông, giáo dục bao giờ cũng phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất vốn có của hình thái kinh tế - xã hội nhất định; tính chất giáo dục được quy định bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. Những vấn đề cơ bản, chủ yếu của nền giáo dục trong xã hội mới, như vấn đề mục đích, bản chất, tính chất, phương châm, nguyên tắc, nguyên lý giáo dục, vai trò của nhà nước, của xã hội đối với giáo dục,… đều được C.Mác trình bày và luận giải một cách sâu sắc, tạo nền tảng lý luận rất cơ bản cho sự hình thành và phát triển nền giáo dục mới của xã hội tương lai.
Vấn đề mục đích của giáo dục - vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với cả nền giáo dục, được C.Mác đặc biệt quan tâm. Ông đã đưa ra luận đề rất cơ bản về giáo dục toàn diện, về phát triển con người toàn diện không những về tri thức, chuyên môn mà còn cả về thể chất, sức khỏe, tư tưởng, đạo đức - những phẩm chất cơ bản cần thiết của con người mà xã hội xã hội chủ nghĩa cần xây dựng. Từ việc làm rõ cơ sở khách quan quy định sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân và không ngừng đấu tranh vì sứ mệnh lịch sử ấy, C.Mác đã chỉ ra một cách rõ ràng mục đích của nền giáo dục mà giai cấp công nhân hướng tới và thực hiện trong xã hội mới là phải phát triển toàn diện con người. Ông viết: “Như O-oen đã nói tỉ mỉ và rõ ràng rằng: Nền giáo dục sau này là nền giáo dục làm cho mỗi một trẻ em khi đến lứa tuổi nhất định đều biết kết hợp trí dục, thể dục với công tác lao động sản xuất. Đấy không những là một phương pháp để tăng thêm mức sản xuất của xã hội, mà còn là một phương pháp duy nhất để đào tạo ra lớp người phát triển toàn diện, phương pháp này đã được manh nha từ trong chế độ nhà máy mà ra” [11, tr.85].
C.Mác đã đưa ra những tư tưởng rất cơ bản về nguyên lý, phương châm, phương pháp, hình thức và nội dung giáo dục, khẳng định dạy học phải lấy người học làm trung tâm, dạy học phải phát huy tối đa tính sáng tạo và tích cực của người học; giáo dục phải kết hợp với tự giáo dục; giáo dục phải đảm bảo học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, gắn liền với lao động, sản xuất. Luận đề cơ bản mà C.Mác nêu lên: “Những điều khoản của đạo luật công xưởng, nói chung trong toàn bộ, đối với việc giáo dục, tuy có vẻ ít ỏi thật, nhưng cũng đã tuyên bố được rằng trẻ em bắt buộc phải có trình độ sơ học mới được đi làm. Thành công của những điều khoản đó đã chứng tỏ một cách thực tiễn lần đầu tiên cho người ta thấy rằng có thể kết hợp giáo dục và thể dục với lao động chân tay và ngược lại, lao động chân tay với giáo dục và thể dục” [10, tr.40]. “Việc kết hợp trí dục, thể dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp với lao động sản xuất có thù lao, có thể nâng trình độ giai cấp công nhân lên cao hơn các giai cấp lớp giữa và lớp trên nhiều” [11, tr.90] và “sớm kết hợp công tác lao động sản xuất với giáo dục sẽ là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để cải tạo xã hội hiện nay” [11, tr.85]. Với các luận điểm trên, C.Mác đã chỉ rõ phương châm, nguyên lý giáo dục gắn với thực tiễn, gắn với sản xuất; học đi đôi với hành; giáo dục phải phục vụ cho sản xuất và nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, của sản xuất; chỉ rõ yêu cầu của giáo dục và yêu cầu của sản xuất phải gắn bó chặt chẽ với nhau, quy định và đòi hỏi lẫn nhau, phải kết hợp với nhau. Ông nhấn mạnh: “Vào cuối thế kỷ XVII, Giônbenlơ, nhà kinh tế học lỗi lạc nhất của thời đại ông, đã nói về việc giáo dục không bao gồm lao động sản xuất như sau: “Học tập mà không lao động thì không hơn gì học tập về những việc không lao động (...). Lao động của thể xác là một chế độ do Thượng đế định ra từ hồi nguyên thủy (...). Lao động cần thiết cho cơ thể để giữ cho cơ thể lành mạnh cũng y như ăn để cho cơ thể sống được (...). Lao động tiếp thêm dầu cho cái đèn của cuộc sống; tư tưởng thì nhóm lửa vào cái đèn ấy”.
Nói tóm lại, tư tưởng giáo dục của C.Mác đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động trở lại của phát triển kinh tế - xã hội đối với giáo dục, chỉ rõ ý nghĩa lớn lao và vai trò quyết định của giáo dục đối với việc phát triển con người, nguồn lực con nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia nói riêng. Những quan điểm ấy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Những di sản tư tưởng, lý luận giáo dục của C.Mác là tài sản vô giá trong kho tàng lý luận khoa học của nhân loại, đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với nước ta. Đó là cơ sở lý luận quan trọng, là phương pháp luận căn bản cho Đảng ta đề ra đường lối, chính sách giáo dục, đào tạo và thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Đó là đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh lịch sử mới.
Thấu triệt tư tưởng giáo dục của C.Mác, trong tình hình mới chúng ta thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là nhằm mục tiêu tổng quát: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” [12, tr.14]. Giáo dục và đào tạo hướng vào phát triển “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Thực hiện bước chuyển căn bản quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục và đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp với quy luật khách quan. Đổi mới giáo dục theo hướng mở, linh hoạt. Chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. “Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [14, tr.115]. Vận dụng tư tưởng giáo dục của C.Mác đối với nước ta hiện nay là quán triệt và thực thi có hiệu quả quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [12, tr.14] nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tài liệu tham khảo
[1] C.Mác (1960), Tư bản, quyển thứ nhất, t.II, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1970), Tuyển tập, t.I, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1971), Tuyển tập, t.II, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[8] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.16, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[9] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.46, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[10] C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, I.V.Xtalin (1976), Bàn về giáo dục, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[11] Chủ nghĩa Mác và vấn đề giáo dục (1959), Nxb Sự thật, Hà Nội.
[12] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Hỏi - đáp về một số nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[13] Bùi Minh Hiền (2016), Lịch sử giáo dục thế giới, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.