TỪ QUAN ĐIỂM VỀ DÂN CHỦ CỦA C.MÁC BÀN VỀ DÂN CHỦ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN HIỆN ĐẠI
Tóm tắt: Trên
cơ sở lược thảo những điểm chính trong quan điểm của C.Mác về dân chủ, bài viết
tập trung phân tích tác động của công nghệ thông tin hiện đại đến dân chủ trên
các phương diện: Thúc đẩy dân chủ hóa và làm thay đổi cán cân quyền lực, từ đó
chỉ ra những khó khăn cũng như những vấn đề phức tạp nảy sinh trong việc làm thế
nào để thực hành dân chủ và đảm bảo quyền của nhà nước trong bối cảnh tác động
mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện đại.
Từ khóa: C.Mác,
dân chủ, công nghệ thông tin hiện đại.
----------
Quan điểm của
C.Mác về dân chủ
Dân chủ
(democracy) là một trong những phạm trù trung tâm trong triết học chính trị của
C.Mác. Phạm trù này được C.Mác nghiên cứu, luận chứng và thực hiện trong mối
quan hệ chặt chẽ với các phạm trù quan trọng khác, như bình đẳng, công bằng, tự
do, trách nhiệm. Cách thức ông luận chứng về dân chủ cũng cho thấy những đặc
trưng cơ bản trong triết học chính trị của ông, đó là luôn tôn trọng các nguyên
tắc khách quan, lịch sử và lập trường giai cấp. Nhận thức như thế để hiểu rằng,
không thể bàn đến dân chủ mà thiếu các phạm trù liên quan đến nó và cũng không
thể bàn đến dân chủ trên một lập trường chung chung, mơ hồ, phi giai cấp, phi
lịch sử.
Quan điểm về
dân chủ của C.Mác trải dài qua các tác phẩm của ông, như Gia đình thần thánh,
Hệ tư tưởng Đức, Ngày 18 tháng Sương mù của Louis Bonaparte, Phê phán cương
lĩnh Gôta, Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel, Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản, Tư bản, Dẫn luận đấu tranh giai cấp ở Pháp. Nhìn vào các tác
phẩm trên, có thể thấy, C.Mác đã không chỉ dừng ở mức nghiên cứu phạm trù này
từ phương diện hàn lâm của nó mà quan trọng hơn hết thảy, ông hướng đến một sự
hiện thực hóa nó trong thực tiễn đấu tranh cách mạng.
Quan điểm về
dân chủ của C.Mác từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế
quan tâm, phân tích và đánh giá. Bởi lẽ, đây là vấn đề căn cốt gắn liền với
những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của ông. Mặc dù còn nhiều ý kiến tranh luận
đi vào chi tiết khi phân tích quan điểm của C.Mác về vấn đề này, song theo chúng
tôi, quan điểm về dân chủ của C.Mác được biểu đạt và tập trung ở một số điểm
sau đây:
Ở tầng nghĩa
thứ nhất: Dân chủ với tư cách một phạm trù của chính trị (dân chủ chính trị).
Đây là tầng
nghĩa được C.Mác dành nhiều thời gian và sức lực luận chứng cho nó nhất. Bàn
đến dân chủ với tư cách một phạm trù chính trị có một số điểm như sau:
Thứ nhất, ở
C.Mác, dân chủ được hiểu là một kiểu thiết chế nhà nước. Kiểu thiết chế này
được xây dựng trên một nền tảng kinh tế nhất định và về cơ bản, nó phục vụ cho cơ
sở kinh tế đó. Theo C.Mác, bất cứ sự hình thành một lĩnh vực nào, bao gồm cả
dân chủ, đều phải thích ứng với một quan hệ sản xuất (quan hệ kinh tế) nhất
định và phục vụ cho quan hệ sản xuất đó. C.Mác cho rằng, quan hệ sản xuất hay
xã hội công dân là nền tảng cơ bản của các hình thức nhà nước, từ nhà nước nô
lệ cổ đại đến nhà nước dân chủ hiện đại. Liên quan đến điểm thứ nhất này là các
điểm cốt yếu tiếp theo.
Thứ hai, C.Mác
nhấn mạnh ý nghĩa mang tính bản chất kinh điển của dân chủ, đó là dân chủ không
phải cái gì khác hơn là hình thức chính trị nhằm đạt được những lợi ích. Về bản
chất, dân chủ là phương tiện thống trị giữa các giai cấp. Ông cho rằng, trong
bất cứ một hình thức nhà nước nào, dân chủ được xác lập đều nhằm mục đích cố
gắng có được những lợi ích riêng của cá nhân, của một nhóm hoặc lợi ích chung
của toàn thể cộng đồng… Đây là đặc trưng dễ phân biệt nhất trong lý luận của
C.Mác về dân chủ so với các lý luận khác. Rằng, toàn bộ cuộc đấu tranh, bao gồm
cả đấu tranh giữa chế độ dân chủ, chế độ chuyên chế và chế độ độc tài đều là sự
minh họa cho một hình thức cộng đồng; dưới những hình thức này luôn tồn tại
những cuộc đấu tranh thực sự giữa các giai cấp khác nhau [1, tr.47-48].
Thứ ba, C.Mác
cho rằng, dân chủ không thể tách khỏi chuyên chính
(dictatorship).
Đây là hai phương diện của một vấn đề; dân chủ của những người này lại là
chuyên chính đối với những người khác. Khi dân chủ trở thành một phương pháp
thống trị của giai cấp thống trị, nó phải bảo vệ những lợi ích chính trị của
giai cấp thống trị. Một khi những lợi ích chính trị của giai cấp thống trị bị
đe dọa, nhà cầm quyền sẽ ngay lập tức lấy đi những quyền chính trị của giai cấp
bị trị mà không phải lưỡng lự, cho đến khi lợi ích của giai cấp thống trị được
duy trì. Về vấn đề này, C.Mác đưa ra ví dụ về “quyền phổ thông đầu phiếu”. Một
khi lợi ích của giai cấp thống trị bị đe dọa, họ sẽ thay thế khẩu hiệu “bác ái
phổ biến” bằng “khẩu hiệu chiến tranh” [2, tr.349-350].
Thứ tư, C.Mác phê
phán nền dân chủ trong chủ nghĩa tư bản. Mặc dù đánh giá cao tiến trình vĩ đại
chuyển từ hệ thống độc tài phong kiến sang dân chủ tư bản chủ nghĩa hiện đại,
song ông cũng chỉ ra những hạn chế của dân chủ tư bản chủ nghĩa qua việc phê
phán thói đạo đức giả của nền dân chủ tư bản. Ông cho rằng, chính trị dân chủ
của chủ nghĩa tư bản luôn tương hợp với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa;
là dấu hiệu chính trị rõ nhất thể hiện bản chất của nó, đó là bảo vệ lợi ích
của những nhà tư bản. Với đa số quần chúng, kiểu dân chủ này không chỉ là đạo
đức giả, mà còn là một kiểu bóc lột và áp bức. Cũng trong tư tưởng của C.Mác
thì trong dân chủ xã hội chủ nghĩa, sự tham gia chính trị của nhân dân là yếu
tố cốt lõi, mang tính quyết định. Vì thế, nghiên cứu tư tưởng của C.Mác về dân
chủ, phải đặc biệt chú ý đến vấn đề trung tâm của nó là tự do và quyền lực của
nhân dân [Xem: 4].
Thứ năm, C.Mác
cho rằng, dân chủ là một phạm trù lịch sử. Nó là sản phẩm của sự phát triển lâu
dài của xã hội loài người và rốt cuộc, nó sẽ mất đi cùng với nhà nước. Một
trong những nguyên lý cơ bản trong lý luận dân chủ của C.Mác là: Nhà nước là
sản phẩm của chế độ sở hữu tư nhân và của xã hội cổ điển. Nó ra đời và phát
triển cùng với sự phát triển của sản xuất. Trong lý luận về chủ nghĩa cộng sản,
ông cho rằng cả sở hữu tư nhân và giai cấp sẽ biến mất; cho nên nhà nước cũng
sẽ mất đi. Nhà nước là một phạm trù lịch sử, thì dân chủ chính trị với tư cách
một kiểu thiết chế nhà nước, rốt cuộc, một ngày nào đó cũng sẽ biến mất trong
sự phát triển của xã hội loài người (cùng với sự biến mất của giai cấp, nhà
nước, và chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) [Xem: 5].
Có thể thấy,
năm điểm trên đây có sự liên quan mật thiết với nhau, mang tính chất bao trùm
tạo nên tầng nghĩa thứ nhất trong quan điểm của C.Mác về dân chủ đó là dân chủ
chính trị [Xem: 3]. Do tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp ở thời đại mà
C.Mác sống, ông đã dành nhiều thời gian luận chứng cho tầng nghĩa thứ nhất này.
Đây cũng là lý do khiến cho suốt từ sau khi C.Mác mất đến nay, người ta đã
tuyệt đối hóa nó theo hướng giáo điều, bảo thủ.
Ở tầng nghĩa
thứ hai: Dân chủ với tư cách một phạm trù xã hội (dân chủ xã hội).
Ở C.Mác, dân
chủ còn có tầng nghĩa thứ hai của nó, đó là dân chủ với tư cách một phạm trù xã
hội. Ở tầng nghĩa này, dân chủ có các đặc điểm sau:
Thứ sáu, dân
chủ là một giá trị xã hội. Về phương diện này, dân chủ thể hiện một khát vọng,
một mục tiêu hướng đến của con người, bên cạnh các giá trị khác, như tự do,
bình đẳng, công bằng, trách nhiệm… Vì thế, khi nhà nước tiêu vong thì cái dân
chủ mất đi chỉ là dân chủ với tư cách một kiểu thiết chế nhà nước, còn dân chủ
với tư cách một phẩm hạnh của con người sẽ là cái tồn tại vĩnh viễn.
Ở phương diện
này, theo chúng tôi, cần bổ sung điểm thứ bảy.
Thứ bảy, dân
chủ với tư cách một giá trị xã hội sẽ là một trong những dấu hiệu, phương thức
chủ đạo cho quản lý xã hội trong xã hội hiện đại. Với đặc trưng thứ bảy này,
việc xem xét phạm trù dân chủ phải gắn bó mật thiết với các phạm trù khác, bao
gồm tự do, bình đẳng, công bằng và trách nhiệm. Đây là những phạm trù có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh xã hội chịu tác động mạnh mẽ của khoa
học và công nghệ hiện đại.
Dân chủ dưới
tác động của công nghệ thông tin hiện đại
Ngày nay, công
nghệ thông tin hiện đại không chỉ làm nên những thay đổi tận gốc rễ nền kinh tế
thế giới, mà còn dẫn đến những biến đổi căn bản trong quan niệm cũng như thực
tiễn dân chủ của hầu hết các loại hình xã hội. Những tác động được nhận thấy có
cả những tích cực và tiêu cực. Đối với dân chủ, sự tác động này biểu hiện ra ở
chỗ, công nghệ thông tin hiện đại đang thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và dẫn
đến những thay đổi trong cán cân quyền lực giữa các bên liên quan.
Thứ nhất, công
nghệ thông tin thúc đẩy dân chủ hóa. Đặc trưng thứ nhất này biểu hiện như sau:
Một là, công
nghệ thông tin làm thay đổi hình thức biểu đạt dân chủ.
Như đã thấy,
dân chủ là sản phẩm tiến bộ của sự phát triển các quan hệ người. Dân chủ ban
đầu có nghĩa là “diễn đàn” - nơi người ta tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm của
mình về những vấn đề liên quan đến cộng đồng; và, thông qua tranh luận, họ đi
đến những quyết định, thoả thuận chung. Nền dân chủ sơ khai đầu tiên được biết
đến trong lịch sử là nền dân chủ Athen. Mặc dù vậy, trên thực tế, đây không
phải là nền dân chủ dành cho tất cả mọi người. Bằng chứng là, trong nền dân chủ
đó, những người nô lệ, phụ nữ, trẻ em, những người khuyết tật thì không được
phép tham gia tranh luận.
Sự phát triển
các hình thức dân chủ có những bước tiến triển dần; mà ở đó, hình thức dân chủ
đại diện (trong nền dân chủ tư sản) là bước tiến quan trọng về dân chủ. Chế độ
dân chủ đại diện theo khu vực, lãnh thổ, ngành, nhóm, lĩnh vực, tập đoàn, giai
cấp là hình thức dân chủ khá phổ biến ở nhiều quốc gia. Trong hình thức dân chủ
đại diện, hầu hết người dân được bày tỏ ý kiến, sự lựa chọn của họ thông qua
các đại biểu. Các đại biểu nhân danh các nhóm dân sẽ trực tiếp thảo luận, thoả
thuận và ra quyết định. Mặt tiến bộ của hình thức dân chủ này là người dân được
tự do đề cử, chọn lựa những người đại diện thay họ quyết định những vấn đề của
cộng đồng. Nhưng hạn chế của nó là ở chỗ, mô hình dân chủ đại diện dẫn đến việc
loại bỏ đa số người dân ra khỏi diễn đàn của việc ra quyết định, đồng thời cũng
không chắc chắn rằng những đại diện được các nhóm dân chúng bầu ra có tuyệt đối
trung thành với những lợi ích, yêu cầu và mong muốn của họ hay không? Mặc dù
vậy, hình thức dân chủ đại diện đã là hình thức tiến bộ nhất mà con người có
được trước khi có hình thức dân chủ mới cao hơn - dân chủ trực tiếp, mà về thực
chất, là dân chủ cho từng người dân.
Sự ra đời và
phát triển của công nghệ thông tin hiện đại, với sự tham dự ngày càng sâu rộng
của các phương tiện truyền thông, như phát thanh, báo chí, truyền hình, mạng
Internet…, hiện đã và đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình dân
chủ hóa xã hội. Dân chủ hóa đời sống xã hội có nghĩa là tạo ra sự tự do, bình
đẳng, tạo ra những cơ hội cho phát triển và thể hiện năng lực của con người.
Nhờ sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động mà
đối cực giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đã chuyển thành đối trọng
giữa hai mô hình hỗn hợp dân chủ giữa một bên là hỗn hợp trọng dân chủ trực
tiếp và bên kia là hỗn hợp dân chủ thông qua đại diện. Kết quả của quá trình
này là dân chủ trực tiếp ngày càng trở thành hình thức chủ yếu trong đời sống
xã hội. Môi trường thông tin hiện đại với sự hỗ trợ mạnh mẽ của các công cụ
thông tin hiện đại ngày nay cho phép con người tự do hơn trong thể hiện các
quan điểm, chính kiến của mình bằng cách thông qua các mối quan hệ trực tiếp,
bỏ qua các khâu đại biểu trung gian đã từng tồn tại trước đây.
Hai là, công
nghệ thông tin thúc đẩy quy mô và tốc độ dân chủ hóa.
Ngày nay, nét
đặc trưng dễ nhận thấy nhất là những phương tiện truyền thông, viễn thông hiện
đại, như truyền hình, radio, Internet,… đã và đang cho phép hiện thực hóa dân
chủ ở quy mô rộng hơn và phá bỏ những hạn chế về thời gian. Điển hình nhất là
các trường hợp thư điện tử, trang web, blog, mạng xã hội - những loại hình trao
đổi quan trọng trên Internet.
Đối với thư
điện tử, người ta vừa có được những lợi ích như khi sử dụng điện thoại, thư tín
hay fax, đồng thời lại khắc phục được cả sự bất tiện do các hình thức này đem
lại, bởi thư điện tử có thể in ấn được như thư tín và không cần phải trả lời
ngay lập tức như điện thoại. Thư điện tử cũng không quá chậm như thư tín và
cùng một lúc có thể gửi thông điệp cho nhiều người; do vậy, nó không chỉ tạo
điều kiện thuận lợi cho trao đổi giữa các cá nhân, mà còn rất hiệu quả cho các
nhóm, các tổ chức. Những tiện ích, giá thành rẻ và tính dân chủ cao của nó thúc
đẩy giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, với chính
phủ và ngược lại ngày càng nhanh và hiệu quả.
Với trang web,
dân chủ cũng được mở rộng. Trang web là một tập hợp những thông tin của các
công ty, tổ chức hay các cá nhân. Khi truy cập vào trang web người ta có thể
tham dự, phản hồi và tương tác với các cá nhân khác. Ngày nay, nhờ công nghệ
3G, 4G, 5G, người ta có thể truy cập web tại bất cứ nơi nào có kết nối và vào
bất cứ thời điểm nào. Web tạo ra những văn phòng điện tử, báo điện tử…, nơi
người ta không chỉ lấy thông tin, mà còn tương tác, trao đổi thông tin với
nhau. Thông qua web, người dân có thể hiểu tường tận về chính phủ, về những
người đại diện, về những sự kiện đang diễn ra trong nước cũng như quốc tế. Hơn
thế, họ còn có thể tương tác, đối thoại được với nhau mà không phải đối mặt
trực tiếp.
Sự phát triển
mạnh mẽ của Internet còn sản sinh ra nhiều loại hình trao đổi thông tin trực
tuyến khác; trong đó, nổi bật là các trang mạng xã hội quy mô quốc tế, như
Facebook, Twitter và nhiều trang mạng quy mô quốc gia khác… Tại những trang
mạng xã hội, dường như người tham dự không còn bị trói buộc bởi sự phân biệt
đẳng cấp, tuổi tác, địa vị xã hội, hay địa vị chính trị nữa. Mọi người dường
như đều bình đẳng trong giao tiếp. Họ có thể đưa ra những lập luận, quan điểm,
tiếng nói của mình mà không phải e sợ những thiên kiến như trong đời thực.
Sự phổ biến
của những loại hình trao đổi thông tin trên đang đưa đến những thay đổi mạnh mẽ
trong mối quan hệ giữa người dân và chính phủ. Hệ thống thông tin ngày nay là
sự tích hợp, liên thông tất cả các hình thức truyền tải thông tin từ radio,
truyền hình, email, web, mạng xã hội…, trong một môi trường số, một không gian
số vừa thống nhất vừa đa dạng, phức tạp. Chính môi trường này tác động trực
tiếp đến mọi mặt của đời sống con người, trong đó có cả đời sống chính trị và
dân chủ không chỉ trong nội bộ quốc gia, mà còn cả trên phạm vi quốc tế. Giờ
đây, người dân có thể trực tiếp theo dõi tiến trình diễn biến của một kỳ họp
quốc hội hay các hội nghị quốc gia cũng như quốc tế, thậm chí họ có thể tương
tác trực tiếp, góp ý, kiểm soát những dự thảo, chính sách của chính phủ… Ở
phương diện này, có thể thấy công nghệ thông tin đang giúp người dân tăng cường
khả năng giám sát đối với chính phủ, qua đó nâng cao vai trò của họ trong việc
quản lý đất nước. Tính tương tác cao của môi trường Internet khiến nó trở thành
một kênh giao tiếp cực kỳ quan trọng giữa chính phủ với dân chúng, cả ở cấp độ
quốc gia và quốc tế. Internet đã trở thành môi trường với những công cụ hết sức
hữu hiệu cho giao tiếp giữa chính phủ với người dân. Thực tế cho thấy, trong
cuộc vận động tranh cử vị trí tổng thống của nước Mỹ năm 2008, nhờ sử dụng tối
đa công cụ mạng xã hội mà Barak Obama đã giành chiến thắng áp đảo trước các đối
thủ của mình. Cũng tương tự, trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua, ứng cử
viên Donal Trump đã tương tác trực tiếp với các cử tri thông qua những thông
điệp “ngay tức thì” trên trang Twitter của ông ta. Hiện đây vẫn là kênh mà Tổng
thống Mỹ tương tác trực tiếp với người dân. Có thể nói, ngày nay, hầu hết các
chính trị gia, các tổ chức trên thế giới đều không thể không tận dụng phương
tiện thông tin đầy sức mạnh này như một kênh giao tiếp với đông đảo quần chúng
nhằm phục vụ cho những mục tiêu chính trị của họ.
Mạng Internet
không chỉ cung cấp các dịch vụ góp phần nâng cao tốc độ và quy mô dân chủ hóa
như trên, mà còn là cơ sở để xây dựng chính phủ điện tử - tiền đề quan trọng
cho cải cách hệ thống chính trị của các quốc gia trên thế giới. Chính phủ điện
tử là việc sử dụng các tiện ích của công nghệ thông tin, như máy tính điện tử,
Internet…, để tin học hóa quản lý nhà nước. Với chính phủ điện tử, các công
việc hành chính liên quan đến nhà nước, chính phủ, đến các cơ quan công quyền
được thực hiện qua môi trường số. Người dân không phải mất thời gian đến tận
các cơ quan này hay phải chờ đợi kết quả giải quyết những vấn đề liên quan đến
tư pháp của họ. Quyết sách của chính phủ được công khai trong toàn xã hội, đến
từng người dân, đồng thời chính phủ cũng nhanh chóng nhận được sự phản hồi của
dân chúng về những chính sách mà họ đã ban hành, hoặc dự định sẽ ban hành.
Chính phủ điện tử còn đặt ra yêu cầu buộc phải cải cách nền hành chính quốc gia
từ trung ương đến địa phương, cải cách các cơ chế, thể chế vốn là thứ thay đổi
chậm hơn các thay đổi của đời sống. Như vậy, trong một chừng mực nhất định, có
thể khẳng định, những tiện ích mà Internet mang lại đang góp phần giảm bớt dân
chủ đại diện, tăng cường dân chủ trực tiếp, lấp dần hố ngăn cách giữa hai hình
thức này, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa diễn ra nhanh, mạnh và trên một quy mô
rộng.
Thứ hai, công
nghệ thông tin đưa đến sự thay đổi cán cân quyền lực chính trị và những nguy
cơ.
Chúng ta biết
rằng, giá trị của dân chủ được thể hiện ở ba nguyên tắc: Thứ nhất, ở bản chất
của nhà nước, đó phải là “nhà nước của dân, do dân, vì dân”; thứ hai, ở nguyên
tắc bầu cử “một người một phiếu” (phổ thông đầu phiếu) và thứ ba, nguyên tắc
“đa số thống trị”. Những nguyên tắc này tôn trọng tự do cá nhân và dân chủ hóa
trong khuôn khổ của luật pháp. Trong một thế giới tương tác mạnh mẽ như hiện
nay, các phương tiện thông tin điện tử đang trở thành công cụ để những người dân
bình thường có thể thực hiện và duy trì được sự kiểm soát và hiện thực hóa ba
nguyên tắc dân chủ trên. Như vậy, cùng với sự biến đổi dần hình thức biểu đạt
của dân chủ, có thể khẳng định Internet và các phương tiện thông tin đại chúng
đang góp phần tăng cường mức độ quyền lực trực tiếp của nhân dân.
Tuy nhiên, sự
tác động, ảnh hưởng của Internet và các phương tiện điện tử đến chính trị không
chỉ thuần túy là tích cực. Bên cạnh khả năng mở rộng tự do và dân chủ, công
nghệ thông tin còn là phương tiện để các cá nhân, tổ chức lợi dụng phá hoại sự
ổn định của một quốc gia. Chúng ta biết rằng, mọi tương tác diễn ra trên
Internet không phụ thuộc vào ranh giới quốc gia. Tính đại chúng của Internet
khuyến khích sự tương tác “nhiều người với nhiều người”, giúp cho các công dân
trên toàn thế giới có thể tham gia vào những cuộc đối thoại công khai; trong
khi đó, việc quản lý Internet lại chưa được thống nhất trên phạm vi toàn cầu.
Chính vì những kẽ hở này mà những tổ chức khủng bố hay phân biệt chủng tộc có
thể gieo rắc những thông tin phục vụ mục đích của chúng. Bên cạnh đó, cơ cấu
phi tập trung hóa do cấu trúc mạng nhện của Internet cũng giúp các cá nhân có
thể vượt qua những rào cản kiểm soát thông tin. Chính tính chất khó có thể kiểm
soát triệt để đó của Internet khiến các chính phủ dù có quyền lực chính trị lớn
đến đâu đôi khi cũng tỏ ra bất lực. Việc Internet có khả năng loại bỏ quyền lực
của nhà nước nhờ tạo ra một không gian hoạt động phân tán khiến người ta lo
lắng rằng, Internet sẽ tạo ra một tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn.
Bên cạnh đó,
ngày nay, sự phổ cập và bành trướng của công nghệ Internet ngày càng trở nên dễ
dàng hơn nhờ giá của thiết bị công nghệ ngày càng rẻ và môi trường số ngày càng
phổ biến. Bất cứ ai cũng có thể truy cập, sáng tạo, bổ sung vào Internet tất cả
những thông tin mà họ muốn, miễn là các giải pháp công nghệ cho phép họ thực
hiện được điều đó. Trong khi đó, khả năng bảo mật và quản lý Internet trên phạm
vi thế giới, mặc dù đã có nhiều tiến bộ, song vẫn có những lỗ hổng khó có thể hạn
chế được hoàn toàn.
Đây cũng là
mảnh đất tốt cho sự xâm phạm bất hợp pháp vào các thông tin riêng tư và cả các
thông tin của chính phủ, của các bộ, ngành không chỉ ở tầm quốc gia, mà còn cả
ở tầm quốc tế. Ngày nay, việc các hệ thống công nghệ thông tin của các chính
phủ hay các tổ chức kinh tế, xã hội bị tin tặc tấn công không còn là chuyện
hiếm. Như vậy, bên cạnh khả năng mở rộng tri thức và tự do của con người, công
nghệ Internet cũng gây ra những vấn đề vượt khỏi tầm kiểm soát của chính con
người - tình trạng vô chính phủ, hỗn loạn và xâm phạm thô bạo đời tư của cá
nhân.
Những gì đang
xảy ra cho thấy rõ tính hai mặt của Internet. Internet vừa là nguồn tạo ra cái
tốt, lại vừa là nguồn đưa đến sự nguy hại, thậm chí là tội lỗi. Mặt tích cực
của Internet cho thấy sức mạnh của tri thức và trí tuệ của con người, trong khi
đó mặt tiêu cực của nó mở ra sự tự do theo đuổi những lợi ích và sở thích cá
nhân mà không đếm xỉa đến những lợi ích của cộng đồng. Một môi trường pháp lý
bảo vệ mọi người khỏi sự tác động của những thông tin tiêu cực, như vu khống,
lừa gạt, thóa mạ, phanh phui bí mật cá nhân vì mục đích chính trị lại chưa được
thiết lập, hoặc đã có nhưng lại hoạt động chưa hiệu quả. Tất cả những hiện
tượng này có thể dẫn đến nguy cơ phản dân chủ và vô chính phủ.
Vậy, thái độ
của con người đối với các phương tiện thông tin này, đặc biệt là Internet nên
như thế nào? Những tác động tiêu cực của Internet đối với cá nhân và xã hội là
tất yếu, song Internet không thể chỉ bị cấm một cách đơn thuần. Ở đây, nảy sinh
vấn đề liên quan đến vai trò và quyền lực của nhà nước trong quản lý thông tin.
Với phát thanh, truyền hình, việc quản lý của nhà nước có thể có hiệu quả,
nhưng với Internet, sức mạnh của quản lý nhà nước sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào
việc quốc gia hay chính phủ có các giải pháp kỹ thuật khả thi và có cơ chế quản
lý phù hợp hay không. Thông thường, chính thể nào nắm được cơ quan thông tin,
chính thể đó có thể định hướng, thậm chí buộc nó phải phục vụ những lợi ích của
mình. Nhưng với Internet, tình hình không hoàn toàn như vậy. Tình trạng vô
quyền, vô chủ, phi sở hữu, phi tập trung do cấu trúc mạng của Internet là khó
khăn rất lớn cho quản lý, đặc biệt là trong khi các giải pháp kỹ thuật và cơ
chế quản lý Internet còn chưa theo kịp sự phát triển của nó. Với truyền hình,
truyền thanh tầm kiểm soát nằm trong tay một chính phủ, một quốc gia, nhưng với
Internet thì không. Tính quốc tế và đại chúng của Internet đòi hỏi cần phải có
sự phối hợp giữa các quốc gia, các nhà nước trong một nỗ lực chung loại trừ những
tiêu cực. Nhưng trên thực tế, điều này rất khó, vì không phải tất cả các nước,
các cộng đồng đều cùng chung lợi ích và mục đích khi sử dụng công nghệ như
Internet.
Từ những gì
bàn đến trên đây, có thể khẳng định rằng, tự thân công nghệ không mang lại dân
chủ. Việc khích lệ dân chủ hay hạn chế dân chủ có liên quan đến công nghệ phụ
thuộc chặt chẽ vào ba yếu tố là thiết kế công nghệ, sử dụng công nghệ và môi
trường xã hội mà trong đó, công nghệ được sử dụng. Một thiết kế công nghệ phải
dựa trên những khả năng khả thi về kỹ thuật và mục đích sử dụng. Trong khi đó,
mục đích sử dụng quyết định việc công nghệ đó được sử dụng phục vụ cho lợi ích
của ai, vì ý đồ gì và cuối cùng là môi trường xã hội có chấp nhận cho phép sử
dụng công nghệ đó hay không. Với điểm thứ ba, chúng tôi muốn nói đến sự chấp
nhận của xã hội phải xuất phát ở chỗ người dân bị thuyết phục bởi những tiện
ích và mục đích lành mạnh mà công nghệ đó mang lại, chứ không phải là sự chấp
nhận do cưỡng chế. Môi trường sử dụng công nghệ không chỉ phụ thuộc vào các
thiết chế, định chế pháp lý, mà còn phụ thuộc vào đặc trưng văn hóa của mỗi
quốc gia, mỗi dân tộc, và quan trọng là nó còn phụ thuộc vào lòng tin của xã hội đối với những thông tin được chuyển
tải. Vì thế, phải xem xét đầy đủ mối quan hệ giữa ba nhân tố này mới có thể
hiểu rõ bản chất sự tác động đến quyền lực chính trị do công nghệ thông tin
mang lại, từ đó mới có được những dự báo và hành động phù hợp.
Tóm lại, sự
tác động của công nghệ thông tin đối với dân chủ là rất phức tạp, nó biểu hiện
trên cả hai phương diện tích cực lẫn tiêu cực. Một mặt, nó tạo điều kiện cho
các bên tham dự tăng cường quyền lực của mình vào quá trình dân chủ; mặt khác,
nó cũng tạo ra nguy cơ dẫn đến sự lạm quyền, lạm dụng dân chủ. Ở đây, cần phải
nhận thức rõ rằng, những vấn đề của dân chủ, bình đẳng hay quyền lực chính trị
phải được giải quyết không chỉ bằng những giải pháp công nghệ, mà còn cần những
giải pháp kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa nữa. Công nghệ chỉ thúc đẩy hay
kìm hãm sự phát triển, làm biến dạng các vấn đề chính trị dưới những hình thức
mới mà thôi. Công nghệ thông tin có thể cải thiện được vị trí của con người,
nhưng muốn công nghệ thông tin phát huy được hiệu quả, nhất thiết phải có sự
điều chỉnh, quản lý của con người theo hướng tích cực. Vì thế, quản lý xã hội
hiện đại không thể không có những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, nhất là từ
bình diện tiếp cận bản chất của nó.
Tài liệu tham
khảo
[1] C.Mác và
Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và
Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.11, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] Phạm Văn Đức
(chủ biên) (2015), Thực hành dân chủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
[4] Tạ Ngọc Tấn, Từ
tư tưởng của Các Mác về dân chủ đến xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn/home/nghi
encuu-traodoi/2018/51183/tu-tu-tuong-cuacac-mac-ve-dan-chu-den-xay-dung.aspx.
[5] Wen, J. C. (2015).
(Institute of Marxism, China University of Political Science and Law, Beijing,
China.), Reconsider Marx’s Democracy Theory.Higher
Education of Social Science, 8 (3), 13-18. Available from: URL:
http://www.cscanada.net/index.php/hess/article/v iew/6586 DOI:
http://dx.doi.org/10.3968/6586.
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Thị Lan Hương - Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.